Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Chiếm

Bà Lê Thị Kim Uyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lý Hoàng P, sinh năm 2004 tại Tiền Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh tiền G; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Thành T và bà Đỗ Thị C; có 03 người em ruột, lớn nhất 2007, nhỏ nhất 2024; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/11/2024 đến nay (có mặt).

Nhân thân: Ngày 15/6/2019, Công an huyện T, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính, hình thức cảnh cáo về hành vi tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng.

- Bị hại:

1. Ông Dương Nghĩa V, sinh năm 1955

Địa chỉ: Số A ấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

2. Ông Bùi Văn M, sinh năm 1988

Địa chỉ: Số B ấp N, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1998

Địa chỉ: Số A N, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

2. Bà Đỗ Thị C, sinh năm 1985

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên sáng ngày 03/11/2024, bị cáo Lý Hoàng P nảy sinh ý định trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Trên đường đi bộ ngang nhà số A ấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo P nhìn thấy cửa rào không khoá, trong sân nhà đang dựng 01 chiếc xe đạp hiệu BRIDEN 05 màu trắng của ông Dương Nghĩa V. Quan sát xung quanh không có người trông coi, P đã lấy trộm chiếc xe đạp. Sau đó, P điều khiển xe đạp đi hướng cầu vượt số G khu đô thị L. Khi đến khu vực dưới C1, thuộc ấp N, xã L, thành phố T, tỉnh Long An, P thấy có 01 chiếc xe mô tô HONDA Air Blade màu đỏ đen bạc, biển số 62B1-416.70 của anh Bùi Văn M đang đậu tại đây. Quan sát không người trông coi, chìa khoá đang cắm sẵn trên xe, P đã bỏ lại chiếc xe đạp vừa lấy trộm của ông V và trộm xe HONDA Air Blade điều khiển đến đường N, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang và bán cho Nguyễn Trung H với giá 3.000.000 đồng. Sau khi bán được xe, P sử dụng số tiền 1.800.000 đồng để chuộc chiếc xe Sirius màu đỏ đen, biển số 63B8-072.57 mà P đã cầm cố trước đó. Trên đường điều khiển xe về nhà, P bị Cơ quan Công an kiểm tra, mời về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo P đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm xe đạp của ông Dương Nghĩa V và xe mô tô của ông Bùi Văn M.

Bản Kết luận định giá tài sản số 152/KL-HĐĐGTS ngày 04/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Long An kết luận giá trị 01 (một) xe mô tô HONDA, loại AIR BLADE, biển số 62B1-416.70, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 03/11/2024 là 16.000.000 đồng.

Bản Kết luận định giá tài sản số 173/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Long An kết luận giá trị 01 (một) xe đạp nhãn hiệu BRIDEN 05, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 03/11/2024 là 183.000 đồng.

- Vật chứng thu giữ gồm 01 Xe mô tô HONDA AIR BLADE màu đỏ đen bạc, biển số 62B1-416.70; 01 xe đạp hiệu BRIDEN 05 màu trắng đã qua sử dụng; 01 áo thun ngắn tay, màu đen, cổ áo có dòng chữ Akey Home XXL; 01 quần vải màu đen dài; 01 đôi dép quai ngang sọc caro màu xám đen; 01 xe mô tô Sirius màu đỏ đen, biển số 63B8-072.57; tiền Việt Nam 1.200.000 đồng.

- Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trao trả 01 xe mô tô HONDA AIR BLADE màu đỏ đen bạc, biển số 62B1-416.70 và 01 xe đạp hiệu BRIDEN 05 màu trắng đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp.

Đồ vật tạm giữ của Lý Hoàng P được chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An tạm giữ chờ xử lý gồm: 01 áo thun ngắn tay, màu đen, cổ áo có dòng chữ Akey Home XXL; 01 quần vải màu đen dài; 01 đôi dép quai ngang sọc caro màu xám đen; 01 xe mô tô Sirius màu đỏ đen, biển số 63B8-072.57 và tiền Việt Nam: 1.200.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSTA-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Lý Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Lý Hoàng P khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố và xác định bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng, không oan.

Trong quá trình điều tra, bị hại ông Dương Nghĩa V khai: Vào khoảng 09 giờ ngày 03/11/2024, sau khi đi làm về thì ông để 01 xe đạp (loại xe nữ, hiệu BRIDEN 05 màu trắng) tại sân trước nhà, cửa rào không khóa, ông vào trong nhà để nghỉ ngơi. Sau đó đến trưa thì ông phát hiện mất xe đạp. Hiện nay ông đã nhận lại chiếc xe đạp do Cơ quan cảnh sát điều tra trao trả nên ông không yêu cầu gì khác.

Trong quá trình điều tra, bị hại ông Bùi Văn M khai: Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 03/11/2024 ông điều khiển xe mô tô HONDA Air Blade màu đỏ đen bạc, biển số 62B1-416.70 đến chân cầu vượt cao tốc thuộc ấp N, xã L, thành phố T, tỉnh Long An để hái môn về nhà ăn. Ông để xe cách vị trí ông hái môn khoảng 30m, ông không có gửi ai quản lý trông coi, chìa khóa còn để trên xe. Sau khi đi vào hái môn được 30 phút, ông đi ra không còn thấy xe mô tô nữa nên đến Cơ quan công an trình báo. Trong quá trình điều tra đã xác định bị cáo P trộm xe của ông, hiện xe mô tô ông đã nhận lại nên không yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung H trình bày: vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 03/11/2024 anh đang sửa xe tại tiệm, địa chỉ số A N, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang thì một người nam đáng người mập, mặc áo thu đen ngắn tay, quần đen dài (không rõ nhân thân và lai lịch) điều khiển mô tô HONDA Air Blade màu đỏ đen bạc, biển số 62B1-416.70 đến tiệm hỏi anh có mua xe không, anh hỏi có giấy tờ hay không, thì người này nói mua xe thanh lý nên không có giấy, hiện rất cần tiền mua sữa cho con nên mới bán, anh thấy xe còn mới, đẹp nên hỏi người này bán giá bao nhiêu, thì người này nói bán 3.000.000 đồng, anh đồng ý mua và đưa tiền mặt cho người này, sau đó anh tiếp tục làm việc. Đến chiều cùng ngày thì lực lượng công an đến làm việc anh mới biết chiếc xe mô tô mà anh vừa mua là do người nam thanh niên trộm cắp tại thành phố T, tỉnh Long An và anh đã giao nộp chiếc xe trên cho Cơ quan công an. Do số tiền 3.000.000đồng anh đưa cho bị cáo, bị cáo đã tiêu xài hết 1.800.000 đồng, chỉ còn 1.200.000 đồng, do bị cáo khó khăn nên anh yêu cầu bị cáo hoàn trả lại cho anh số tiền 1.200.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lý Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lý Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Lý Hoàng P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lý Hoàng P hoàn trả cho Nguyễn Trung H số tiền 1.200.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay, màu đen, cổ áo có dòng chữ Akey Home XXL; 01 quần vải màu đen dài, 01 đôi dép quai ngang sọc caro màu xám đen là đồ vật thuộc sở hữu cá nhân của bị cáo không còn giá trị sử dụng.

Hoàn trả cho bà Đỗ Thị C 01 xe mô tô Sirius màu đỏ đen, biển số 63B8-072.57 do không liên quan đến vụ án.

Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không nghề nghiệp, không có thu nhập nên không phạt bổ sung bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử sem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[3] Nội dung: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với bản kết luận định giá tài sản, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 03/11/2024, tại xã L, thành phố T, tỉnh Long An, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, bị cáo Lý Hoàng P đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản gồm 01 chiếc xe đạp hiệu BRIDEN 05 màu trắng của ông Dương Nghĩa V, trị giá 183.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô HONDA Air Blade màu đỏ đen bạc, biển số 62B1-416.70 của ông Bùi Văn M, trị giá 16.000.00 0đồng. Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 16.183.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ động cơ tham lam, tư lợi muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Với tính chất, mức độ, nhân thân và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra như đã nêu trên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội. đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra trên địa bàn thành phố T hiện nay.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

01 xe mô tô Sirius màu đỏ đen, biển số 63B8-072.57, qua điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Đỗ Thị C (mẹ ruột bị cáo), trước đây bà C cho bị cáo mượn đi hàng ngày rồi bị cáo đem xe cầm cố. Bà C không biết bị cáo trộm cắp xe của người khác rồi lấy tiền để chuộc xe môtô về trả cho bà C. Vì vậy, xe này không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bà Đỗ Thị C.

Đối với 01 áo thun ngắn tay, màu đen, cổ áo có dòng chữ Akey Home XXL; 01 quần vải màu đen dài, 01 đôi dép quai ngang sọc caro màu xám đen thu giữ của bị cáo P, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An đang quản lý. Đây không phải là công cụ, phương tiện phạm tội mà là đồ vật thuộc sở hữu cá nhân của bị cáo P lẽ ra phải tuyên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa, bị cáo không yêu cầu nhận lại và đồ vật này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với ông Nguyễn Trung H không biết xe mô tô HONDA AIR BLADE mà bị cáo đem đến bán tại tiệm của ông do trộm cắp mà có, khi Cơ quan điều tra mời làm việc thì ông H mới biết và tự nguyện giao nộp lại nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an thành phố T đã trao trả 01 xe mô tô HONDA AIR BLADE màu đỏ đen bạc, biển số 62B1-416.70 và 01 xe đạp hiệu BRIDEN 05 màu trắng cho bị hại là ông Dương Nghĩa V và ông Bùi Văn M. Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác nên không đề cập.

Đối với số tiền 3.000.000 đồng anh Nguyễn Trung H bỏ ra để mua xe mô tô HONDA AIR BLADE của bị cáo. Sau khi bán xe bị cáo đã tiêu xài hết 1.800.000 đồng, còn lại 1.200.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An đang quản lý. Số tiền 1.800.000 đồng bị cáo tiêu xài anh H không yêu cầu bị cáo P trả lại. Anh H yêu cầu bị cáo trả lại 1.200.000 đồng nên buộc bị cáo P trả lại số tiền 1.200.000 đồng cho anh H.

[9] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ, phù hợp.

[10] Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội trộm cắp tài sản bị cáo còn có có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không nghề nghiệp nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lý Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lý Hoàng P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 04/11/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo P 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 27/2/2025 để đảm bảo thi hành án.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trả lại cho bà Đỗ Thị C 01 xe mô tô Sirius màu đỏ đen, biển số 63B8-072.57, số máy 1FC104994, số khung RLCS1FC10DY049978.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay, màu đen, cổ áo có dòng chữ Akey Home XXL; 01 quần vải màu đen dài, 01 đôi dép quai ngang sọc caro màu xám đen của bị cáo.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/01/2025 giữa Công an thành phố tân A và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố tân An).

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lý Hoàng P trả cho anh Nguyễn Trung H số tiền 1.200.000đồng (một triệu, hai trăm nghìn đồng).

(Số tiền trên Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tân An đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/01/2025 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Lý Hoàng P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An; (01)
  • - Viện KSND tỉnh Long An; (01)
  • - VKSND tp Tân An; (01)
  • - Công an tp Tân An; (01)
  • - Chi cục THADS tp Tân An;
  • - UBND xã Tân Lý Đông, Châu Thành, Tiền Giang (nơi bị cáo cư trú); (01)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An; (01)
  • - Bị cáo, bị hại (02)
  • - Bộ phận THA hình sự; (07)
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, AV. (02)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diễm Hằng

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Hoàng Phúc TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger