|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 13/2025/HSPT Ngày 26/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Ánh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Tuấn.
Ông Nguyễn Nhật Duật.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Lan Hương, cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh Hảo, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLPT - HS ngày 08/01/2025 đối với bị cáo Nguyễn Hiệp Đ, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hiệp Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 110/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Bị cáo: Nguyễn Hiệp Đ, Tên gọi khác: không; sinh ngày: 04/06/2001 tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu L, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H và bà Nguyễn Thị H1; vợ con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1982; địa chỉ: thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Lục Thị L, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Đ1, chị L: Chị Phạm Hồng M, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (theo giấy ủy quyền ngày 04/11/2024); có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Ngọc L1, sinh năm 1979; địa chỉ: thôn T, xã A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1970; địa chỉ: khu L, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 15/6/2024, Nguyễn Hiệp Đ (không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển xe môtô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, biển kiểm soát 14Z1 - 519.16, phía sau chở cháu Phạm Khánh H2 (sinh ngày 16/6/2008, trú tại thôn A, xã L, thành phố H) đi trên đường liên khu hướng từ chợ M1, phường H về nhà của Đ tại khu L, phường H, thị xã Đ. Khi đi đến khu vực ngã tư giao nhau với đường ưu tiên, thuộc khu M, phường H, thị xã Đ, do Đ điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và không nhường đường cho phương tiện đi trên đường ưu tiên nên đã va chạm với phía trước bên phải đầu xe ô tô tải ben, biển kiểm soát 14C - 188.80 do anh Phạm Ngọc L1 (sinh năm 1979, trú tại thôn T, xã A, thị xã Đ) điều khiển đi trên đường ưu tiên theo hướng phường H đi phường H (từ bên trái đến ngã tư), gây tai nạn. Hậu quả: Đồng và cháu Phạm Khánh H2 bị thương nặng, cháu H2 đã tử vong trên đường đi cấp cứu, xe mô tô và xe ô tô tải bị hư hỏng.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 180 ngày 17/6/2024, của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Q kết luận: Nguyên nhân chết của cháu Phạm Khánh H2 là do chấn thương sọ não kín vỡ vòm và nền sọ, dập não, chết não, gãy kín 1/3 trên 02 xương cẳng chân trái.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 854/KLTTCT-TTPY ngày 19/9/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Q kết luận: Nguyễn Hiệp Đ bị chấn thương sọ não, hàm mặt; chấn thương ngực kín; chấn thương lách độ II; chấn thương khung chậu. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 66% (sáu mươi sáu phần trăm).
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Vị trí xảy ra tai nạn là khu vực ngã tư đường giao nhau. Tại khu vực ngã tư này, nền đường được trải bê tông nhựa tương đối bằng phẳng. Trục đường hướng chợ M1 đi về ngã tư, tâm đường có vạch sơn vàng đứt đoạn, chia đường làm hai phần đường hướng đi ngược chiều nhau, phần đường bên phải rộng 2,3m, phần đường bên trái rộng 5,40m. Tiếp giáp mép đường bên phải là lề đường cứng rộng 0,2m. Tiếp giáp mép đường bên trái là lề đường cứng và nắp cống thoát nước rộng 1,5m, cuối cùng là hàng rào sắt của Trường mầm non H3, phía sau hàng rào sắt trồng dãy cây xanh bóng mát. Hệ thống biển báo, vạch sơn giảm tốc: Từ mép ngã tư phía bắc đo về phía bắc 23,0m là cụm vạch sơn giảm tốc thứ nhất trải dài trên cả hai phần đường, tiếp đến cách 12,0m trên lề đường đất bên phải là cột biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường ưu tiên”, tiếp đến cách biển báo này 10,3m là cụm vạch sơn giảm tốc thứ hai, tiếp đến cách 24,2m là cụm vạch sơn giảm tốc thứ ba, tiếp đến cách 13,0m trên lề đường bên phải là biển báo nguy hiểm “Trẻ em”, tiếp đến cách 2,60m là cụm vạch sơn giảm tốc thứ tư. Trục đường hướng từ Quốc lộ A đi Ủy ban nhân dân phường H (đường ưu tiên), tâm đường có vạch sơn vàng đứt đoạn, chia đường làm hai phần đường hướng đi ngược chiều nhau, phần đường bên phải rộng 3,5m, phần đường bên trái rộng 3,55m. Tiếp giáp mép đường bên phải là lề đường cứng rộng 0,5m. Tiếp giáp mép đường bên trái là lề đường cứng rộng 0,5m. Hệ thống biển báo, vạch sơn giảm tốc: Từ mép ngã tư phía đông đo về phía đông 1,30m là vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường, tiếp đến cách 1,7m là cụm vạch sơn giảm tốc thứ nhất trải dài trên phần đường bên phải, ngang bằng cụm vạch sơn giảm tốc thứ nhất, trên vỉa hè phía bắc là cột biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên”, tiếp đến cách 4,5m là ngõ rẽ vào cổng phụ trường mầm noH3, ngõ rẽ này rộng 6,70m, tiếp đến cách ngõ rẽ 7,30m là cụm vạch sơn giảm tốc thứ hai, tiếp đến cách 3,20m là ngõ rẽ vào khu nhà dân, ngõ rẽ này rộng 12,7m, tiếp đến cách ngõ rẽ 2,80m là vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường, tiếp đến cách 1,0m là cụm vạch sơn giảm tốc thứ ba. Dấu vết các phương tiện thể hiện:
- Số 1: Vết cày xước đường dài 15,2 m, vị trí rộng nhất là 0,45 m, có chiều hướng từ bắc sang nam. Điểm đầu vết nằm tại khu vực giữa ngã tư, trên điểm giao nhau giữa phần đường hướng chợ M1 đi khu L, phường H và phần đường hướng phường H đi phường H, đo về phía bắc đến mép ngã tư phía bắc là 7,6m, phía đông bắc là 13,8m. Điểm cuối vết tiếp giáp với tay nắm ghi đông bên phải xe mô tô.
- Số 2: Xe môtô nằm đổ nghiên sang bên phải, trên phần đường và lề đường đất hướng phường H đi phường H, đầu xe quay hướng tây nam, đuôi xe quay hướng đông bắc. Trục lốp trước nằm trên lề đường đất, cách mép đường phía nam là 01m, cách trục lốp trước bên trái xe ôtô là 1,40 m. Trục lốp sau trùng với mép đường phía nam.
- Số 3: Vết phanh lết lốp dài 10,2m, rộng 0,2m, tạo ra bởi lốp xe phía trước bên trái xe ô tô, có chiều hướng từ đông bắc sang tây nam, trên phần đường hướng phường H đi H. Điểm đầu vết đo về phía đông bắc đến điểm đầu vết số 1 là 3,7m, đo về phía nam đến góc ngã tư phía đông nam là 4,0m. Điểm cuối vết trùng với trục lốp trước bên trái xe ô tô tải.
- Số 4: Xe ôtô tải dừng, đỗ trên phần đường và lề đường đất hướng Hồ N đi phường H sau khi xảy ra tai nạn. Đầu xe quay hướng tây nam, đuôi xe quay hướng đông bắc. Trục lốp trước bên trái nằm trên lề đường đất, cách mép đường phía nam là 0,6 m và cách trục lốp trước xe mô tô là 1,4m.
- Số 5: Đám bụi, bùn đất màu đen, mảnh vỡ nhựa, dép, mũ, biển số trên diện kích thước (12x7,8)m, nằm rải rác trên cả hai phần đường phía tây ngã tư. Điểm đầu đám phía đông bắc nằm trên phần đường hướng đi phường H, cách mép đường phía nam là 6,20m, cách trục lốp sau bên phải xe ôtô là 6,5m. Điểm cuối phía tây nam nằm trên phần đường hướng đi phường H, cách mép đường phía nam là 0,5m.
- Số 6: Đám chất lỏng màu nâu đỏ (nghi máu) dạng vũng, còn ướt kích thước (2,5x01)m, nằm trên phần đường hướng đi phường H và phần đường hướng đi phường H. T đám cách mép đường phía nam là 4,2m, cách trục lốp trước bên phải xe ô tô tải là 2,3m (Bút lục số 53 - 54).
Kết quả khám xe ôtô tải BKS 14C - 188.80 có các dấu vết: Nứt, vỡ nhựa, bong tróc sơn cạnh ngoài, mặt trước, cạnh dưới bên phải ốp gió kích thước (58x40)cm. Cong vênh, bẹp lõm, rách, trượt xước kim loại, trượt xước, bong tróc sơn, mài trượt cao su bên phải ba đờ sốc trước (80x0)cm, hướng từ trước về sau, từ phải qua trái. Điểm tập trung va chạm là phần có gắn cụm đèn phía trước, đèn gầm trước bên phải, kim loại bị đẩy sát tỳ vào bên cụm đèn, điểm thấp nhất cách đất 50cm. Mài trượt cao su màu đen cạnh trên ba đờ sốc trước phần góc dưới bên phải mặt ca lăng (08x02)cm. Cạnh dưới ba đờ sốc trước phần góc dưới bên trái của đèn gầm bên phải có bám dính tổ chức cơ thể người (lông tóc màu đen) (05x04)cm. Vỡ, bung bật khỏi vị trí ban đầu đèn pha trước bên phải. Bung bật khỏi vị trí ban đầu, mài trượt cao su nhựa mặt trước đèn gầm bên phải (16 x 05) cm. Vỡ, rách nhựa ốp cạnh dưới, cạnh trước bên phải bậc lên xuống (18x10) cm. Trượt chùi mất bụi, trượt xước sơn, trượt xước kim loại cạnh dưới bên trái dàn nóng điều hòa (15x05)cm. Xe không gắn camera hành trình; xe chở hàng bùn, đất, đá màu đen.
Kết quả khám xe môtô BKS 14Z1 - 519.16 có các dấu vết: Xe không có gương chiếu hậu hai bên; gãy, vỡ, bung bật khỏi vị trí ban đầu cụm đồng hồ, công tắc đề, xi nhan. Cong vênh tay nắm ghi đông hai bên, hướng từ trước về sau. Gãy, cong vênh kim loại, mài trượt sơn mặt trên tay phanh bên trái (14x3) cm, trên diện có bám dính chất sơn màu xanh. Gãy, mất kim loại đầu tròn tay phanh bên phải. Trượt xước sơn, trượt xước nhựa vế trước chắn bùn lốp trước (11x 05)cm, trên diện bám dính chất sơn màu xanh. Trượt xước, mài mòn nhựa mặt ngoài cánh yếm phải kích thước (30x35)cm; trượt xước kim loại cạnh ngoài thảm để chân, bung bật, mài mòn nhựa cạnh ngoài hộp để chân trước bên phải (37x05)cm. Mài mòn kim loại cạnh ngoài giá để chân phía sau, cạnh ngoài chân giữ giá để chân bên phải (6x3)cm. Trượt xước, mài mòn ốp sườn xe bên phải (33x6) cm. Toàn bộ phần bên trái xe có dấu vết tiếp xúc với mặt đường. Gãy chốt gá, bung bật khỏi vị trí ban đầu cánh yếm bên trái (40x20)cm. Bung bật mất hốc để đồ phía trước bên trái. Cong, vênh kim loại bên phải thảm để chân trước bên trái (22x7)cm, mặt trên có bám dính chất bùn màu đen. Gẫy chốt gá, bung bật khỏi vị trí ban đầu, gãy, vỡ nhựa hộp để chân trước bên trái (43x12)cm. Cong, vênh, mài mòn kim loại thanh gạt để chân chống phía trước (10x0,3)cm; Trượt xước đầu bên trái da yên xe (25x06)cm, yên xe bật khỏi vị trí ban đầu. Gãy, mất hoàn toàn ốp sườn xe bên trái. Vỡ nhựa bên trái cốp đựng đồ. Bẹp lõm kim loại, trượt xước sơn khung sườn bên trái (29x4)cm, trên diện có bám dính chất bùn. Mài mòn kim loại cạnh ngoài giá để chân phía sau, cạnh ngoài chân giữ giá để chân bên trái. Trượt xước nhựa ốp lọc gió (17x9)cm. Gãy, vỡ kim loại, trượt xước nhựa hộp bảo vệ động cơ (30x10)cm. Bẹp lõm kim loại mặt trước, mài mòn kim loại cạnh ngoài đầu chân chống giữa bên trái (15x2)cm. Gãy, vỡ kim loại, trượt xước nhựa hộp bảo vệ động cơ (30x10)cm. Bẹp lõm kim loại mặt trước, mài mòn kim loại cạnh ngoài đầu chân chống giữa bên trái (15x02)cm. Trượt xước sơn, trượt xước kim loại tay xách sau bên trái (25x1,5)cm. Gãy chốt gá, nhựa đuôi xe bung bật khỏi vị trí ban đầu. Bung bật khỏi vị trí ban đầu biển số gắn sau.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thị xã Đ, kết luận:
- Xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-519.16: Tổng giá trị của các bộ phận hư hỏng cần sửa chữa là 9.020.000 đồng.
- Xe ô tô tải biển kiểm soát 14C - 188.80, nhãn hiệu: TRUONG GIANG, số loại: TG-FA 8,5B4x2, loại xe: Tải tự đổ: Tổng giá trị của các bộ phận hư hỏng cần sửa chữa là 9.300.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Hiệp Đ khẳng định bị cáo chưa có giấy phép lái xe mô tô và chính bị cáo là người điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn cho bị hại tử vong. Bị cáo thừa nhận nguyên nhân gây tại nạn là do bị cáo không chấp hành quy định của luật giao thông, lỗi hoàn toàn do bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại (anh Đ1, chị L và người đại diện theo ủy quyền là chị M) cùng thừa nhận nội dung vụ án như đã nêu ở trên, không phản đối hay khiếu nại gì. Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Đ bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm hại theo quy định của pháp luật với tổng số tiền là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng) bao gồm: tổn thất tinh thần; các khoản chi phí mai táng cho cháu Phạm Khánh H2.
Đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị hội đồng xét xử áp dụng hình phạt theo đúng quy định của pháp luật đối với bị cáo Đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Ngọc L1 tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai thể hiện: khoảng 11 giờ 20 phút, anh điều khiển xe đi đến đoạn đường liên khu thuộc khu M, phường H, thị xã Đ hướng phường H đi phường H với vận tốc khoảng 40km/h. Anh L1 quan sát thấy phía trước là khu vực ngã tư giao nhau với đường không ưu tiên; anh giảm tốc độ xuống còn khoảng 30km/h và cho xe đi vào khu vực ngã tư để đi về hướng phường H. Khi đầu của xe ô tô do anh điều khiển đi vào đến khoảng giữa ngã tư thì cùng lúc đó anh phát hiện thấy 01 xe mô tô di chuyển trên phần đường hướng chợ M1 đi đến ngã tư với tốc độ rất nhanh lao đến và va chạm với phần đầu xe, phía trước bên phải xe ô tô anh đang điều khiển. Lúc này theo phản xạ anh đạp phanh đồng thời đánh lái sang trái để tránh nhưng không kịp. Va chạm khiến xe ô tô anh điều khiển trượt rê lốp vế phía trước khoảng 10m thì dừng lại, đẩy xe mô tô rê dưới nền đường. Ngay sau đó, anh L1 xuống kiểm tra thì thấy cháu gái (sau này anh biết tên là H2) bị thương tích chảy máu ở vùng mặt, nằm bất tỉnh trên phần đường hướng phường H đi đến ngã tư, nằm sát vạch sơn đứt đoạn màu vàng tâm đường. Xe mô tô biển kiểm soát 14 Z1-519.16 thì bị đổ nghiêng bên phải, dắt dính dưới gầm đầu xe bên trái của anh. Người thanh niên (sau này anh biết tên là Đ) thì bị thương tích nằm ở khoảng giữa bên trong gầm xe ô tô anh điều khiển. Thấy vậy anh nhờ người dân gần đó đưa hai người này đến Trung tâm y tế thị xã Đ để cấp cứu, còn anh đến trụ sở Công an để trình báo sự việc. Sau khi xảy ra sự việc anh và Công ty cổ phần D đã tự nguyện đã hỗ trợ tiền mai táng phí cho gia đình cháu H2 với số tiền 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng), hỗ trợ tiền viện phí cho gia đình cháu Đ 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), ngoài ra sau khi cháu Đ xuất viện về nhà anh và Công ty cổ phần D có đến hỏi thăm và đề nghị hỗ trợ thêm 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nhưng gia đình và cháu Đ không đồng ý.
Người làm chứng ông Nguyễn Xuân H có lời khai thể hiện: Gia đinh anh đã được anh Phạm Ngọc L1 và Công ty cổ phần D hỗ trợ tiền viện phí số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), gia đình ông không yêu cầu anh L1 và Công ty có trách nhiệm hỗ trợ thêm. Đối với chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát 14 Z1-519.16 là do Đ tự bỏ tiền mua xe, có giấy tờ đầy đủ. Ông cũng khẳng định Đ không có giấy phép lái xe hợp lệ vì chưa được học, đào tạo, sát hạch tại cơ sở đào tạo nào.
Người làm chứng anh Phạm Văn Đ2 có lời khai thể hiện: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu sơn xám – đen, biển kiểm soát 14 Z1-519.16 là của anh mua từ tháng 9/2021, đăng ký xe mang tên anh, có giấy tờ đầy đủ. Đến khoảng tháng 6/2023, do không còn nhu cầu sử dụng nên anh đã bán chiếc xe trên cho cửa hàng mua bán xe máy cũ Thành Luân, địa chỉ tại khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đến nay chiếc xe trên cửa hàng xe máy Thành L2 bán cho ai, hay có ai khác sử dụng thì anh không biết.
Người làm chứng anh Nguyễn Thành L2 có lời khai thể hiện: Anh L2 khẳng định mình không còn liên quan gì đến chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu sơn xám – đen, biển kiểm soát 14 Z1-519.16 vì đã bán cho người khác.
Tại cáo trạng số 2241/CT-VKSĐT ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố bị cáo Nguyễn Hiệp Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 110/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hiệp Đ phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiệp Đ 39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hiệp Đ có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm cho đại diện hợp pháp của cháu Phạm Khánh H2 là anh Phạm Văn Đ1 và chị Lục Thị L số tiền là 250.00.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí, về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/12/2024 bị cáo Nguyễn Hiệp Đ kháng cáo, đề nghị xét xử phúc thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hiệp Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt và hưởng án treo; thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, và xuất trình một số tài liệu chứng cứ mới gồm: Xác nhận của địa phương nơi bị cáo Đồng cư T1 về việc bị cáo hiện tại không đi lại được, phải ngồi xe lăn; Tóm tắt hồ sơ bệnh án của bị cáo Nguyễn Hiệp Đ do Trung tâm y tế thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh lập ngày 19/02/2025; Giấy biên nhận của anh Phạm Văn Đ1 xác nhận ngày 16/02/2025 đã được bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường số tiền 200.000.000đ; đơn đề nghị của anh Phạm Văn Đ1 và chị Lục Thị L ghi ngày 23/02/2025 về đề ghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
Chị Phạm Hồng M là người đại theo ủy quyền của anh Phạm Văn Đ1 và chị Lục Thị L, tại phiên tòa trình bày quan điểm xác nhận đã được bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 200.000.000đ, và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh trình bày quan điểm giải quyết vụ án: kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hiệp Đ trong thời hạn luật định và hợp lệ, được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, do đó đủ cơ sở xác định việc bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội; việc cho bị cáo cơ hội được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Đ từ 30 đến 33 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Hiệp Đ cho UBND phường H, thành phố Đ để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hiệp Đ được thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo trong phạm vi bản án sơ thẩm nên hợp lệ, vụ án được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hiệp Đ tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hiệp Đ cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm số 110/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều tuyên xử bị cáo Nguyễn Hiệp Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét nội dung kháng cáo xin giảm mức tiền phạt, và hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hiệp Đ cung cấp được tài liệu chứng cứ bổ sung về việc bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình cháu Phạm Khánh H2 số tiền 200.000.000₫ mục đích để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Chị Phạm Hồng M là người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại tại phiên tòa xác nhận đã được bị cáo Đ bồi thường thiệt hại số tiền 200.000.000đ, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và có đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo Đ.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Hiệp Đ bị xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự, với khung hình phạt quy định mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là: tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là: Đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, và bị cáo có ông nội được Nhà nước phong tặng danh hiệu dũng sĩ diệt máy bay, huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhất, huân chương chiến công hạng ba. Ngoài ra, bản thân bị cáo hiện đang bị thương tích nặng, tổn hại 66% sức khỏe, bị cáo không tự đi lại được, phải ngồi xe lăn, mọi sinh hoạt của bản thân phải có người thân trợ giúp. Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa có quan điểm đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt bị cáo Đ từ 30 đến 33 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm là có căn cứ.
[4]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hiệp Đ.
[5]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hiệp Đ được chấp nhận, vì vậy bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hiệp Đ; sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 110/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Tuyên bố: Nguyễn Hiệp Đ phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiệp Đ 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Hiệp Đ cho UBND phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hiệp Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Ánh |
Bản án số 13/2025/HSPT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 13/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Hiệp Đồng phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
