Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHIÊM HÓA

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Hạnh Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tuyến.

2. Bà Triệu Thị Yên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hanh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 15/01/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với các bị cáo:

1. HÀ LÊ HỮU V, (tên gọi khác: không) sinh ngày 06/5/1992 tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

Nơi thường trú: Thôn BD1, thị trấn BL, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Hà Văn B, sinh năm 1949 và bà Ma Thị O, sinh năm 1957; anh, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là thứ ba; vợ Lý Thị L (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 09/12/2013 bị Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm trật tự công cộng tại Quyết định số 355/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang, có mặt.

2. ĐẶNG V N, sinh ngày 18/02/1994 tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi thường trú: Thôn NT, xã XQ, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Đặng Khắc C, sinh năm 1966 và bà Hà Thị H, sinh năm 1968; anh, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ tư; vợ: Giàng Thị V (đã chết); con: Có 03 con, lớn sinh 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án: Có 02 tiền án.

  • Bản án số 60/2018/HS-ST ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Đặng Văn N 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản có giá trị 550.000 đồng).
  • Bản án số 66/2019/HS-ST ngày 26/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Đặng Văn N 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Trộm cắp tài sản có giá trị 336.000 đồng, chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm).

Nhân thân:

  • Ngày 16/01/2012 bị Công an huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản tại Quyết định số 17/QĐ-XPÐG.
  • Ngày 26/02/2018 bị Ủy ban nhân dân xã XQ, huyện Chiêm Hóa ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với người nghiện ma túy tại Quyết định số 14b/QĐ-UBND.
  • Ngày 02/4/2018 bị Công an thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản tại Quyết định số 01/QĐ-XPVPHC.
  • Ngày 02/5/2018 bị Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản tại Quyết định số 134/QĐ-XPVPHC.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ, ngày 01/11/2024, Hà Lê Hữu V mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển số 20C1-362.91 của anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1983, trú tại T1, thị trấn BL, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đến Trung tâm điều trị cai nghiện Methadone huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn để uống thuốc. Khi đến khu vực nêu trên, V mua được 01 gói Heroine có đặc điểm bên ngoài gói bằng hai lớp giấy màu trắng, tiếp theo là lớp giấy bạc màu vàng, trong cùng là Heroine dạng bột vón cục màu trắng của một người đàn ông không quen biết với giá 300.000 đồng mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Về đến nhà, V lấy gói Heroine ra sử dụng hết một phần bằng cách tiêm chích vào cơ thể, số Heroine còn lại V cất giấu tại bụi cỏ cạnh đường gần cầu tràn thuộc thôn BD1, thị trấn BL, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Đặng Văn N đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết đến thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, sau đó N đi xe ôm đến nhà Hà Lê Hữu V. Khi gặp V, N hỏi “Để cho em một ít, em mệt lắm rồi” (ý hỏi mua Heroine), V nói “Còn ít thôi, lấy thì lấy”, sau đó N đưa cho V 500.000 đồng, V cầm tiền và bảo N đến khu vực ngã tư đèn xanh đèn đỏ, thị trấn BL, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn chờ. Sau đó V đi lấy gói Heroine tại nơi cất giấu đem đến điểm hẹn đưa cho N. Mua được Heroine N đã sử dụng hết một phần bằng cách tiêm chích vào cơ thể, số còn lại N để trong túi quần bên trái đang mặc sau đó tiếp tục đi nhờ xe của người qua đường về đến khu vực thôn LA, xã XQ, huyện Chiêm Hóa, N xuống xe đi bộ thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đang làm nhiệm vụ. Nghi N có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên tổ công tác đã yêu cầu N dừng lại để làm việc. Quá trình làm việc, N tự giác giao nộp 01 gói Heroine, nguồn gốc gói Heroine N khai mua của Hà Lê Hữu V có địa chỉ nêu trên mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Trên cơ sở lời khai của Đặng Văn N, ngày 02/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Hà Lê Hữu V về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể đối với Đặng Văn N và Hà Lê Hữu V, kết quả dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.

Kết luận giám định số 1488/KL-KTHS ngày 06/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Đặng V N là Heroine, khối lượng là 0,166g (không phẩy một sáu sáu gam).

Cáo trạng số: 10/CT-VKSCH ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố:

  • Hà Lê Hữu V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
  • Đặng Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Lê Hữu V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Đặng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Về hình phạt:
    • + Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hà Lê Hữu V từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/11/2024.
    • + Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Văn N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/11/2024.
  • Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đặng Văn N, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Đặng Văn N, giám định ngày 02/11/2024.

Truy thu của bị cáo Hà Lê Hữu V số tiền 500.000 đồng do bán ma túy mà có.

Đối với các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Lê Hữu V và Đặng Văn N Công an huyện Chiêm Hóa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền nên không đề nghị xem xét.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo Hà Lê Hữu V, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với Nguyễn Ngọc H không biết Hà Lê Hữu V mượn xe của mình sử dụng vào việc phạm tội nên không đề cập xử lý.

Ngoài ra buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Hà Lê Hữu V và Đặng Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Nhất trí với nội dung bản cáo trạng và nội dung luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa; không có ý kiến tranh luận với nội dung luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản sự việc, biên bản khám xét, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Trong ngày 01/11/2024 Hà Lê Hữu V và Đặng Văn N đã thực hiện các hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 01/11/2024 tại khu vực ngã tư thị trấn BL, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, Hà Lê Hữu V đã có hành vi bán trái phép 0,166g (không phẩy một sáu sáu gam) Heroine cho Đặng Văn N với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 01/11/2024 tại thôn LA, xã XQ, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Đặng Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,166g (không phẩy một sáu sáu gam) Heroine, mục đích để sử dụng.

Hành vi của Hà Lê Hữu V đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của Đặng Văn N đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng thể hiện rõ ý thức coi thường pháp luật của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình.

Đối với bị cáo Hà Lê Hữu V: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân xấu, ngày 09/12/2013 bị Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm trật tự công cộng bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng tại Quyết định số 355/QĐ-XPHC (bị cáo đã nộp phạt).

Đối với bị cáo Đặng Văn N: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 16/01/2012 bị Công an huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản tại Quyết định số 17/QĐ-XPĐG (chưa nộp phạt); ngày 26/02/2018 bị Ủy ban nhân dân xã XQ, huyện Chiêm Hóa ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với người nghiện ma túy tại Quyết định số 14b/QĐ-UBND, bị cáo chấp hành xong ngày 26/5/2018; ngày 02/4/2018 bị Công an thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản tại Quyết định số 01/QĐ-XPVPHC (chưa nộp phạt); ngày 02/5/2018 bị Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản tại Quyết định số 134/QĐ-XPVPHC (chưa nộp phạt). Ngày 31/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 60/2018/HSST (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/3/2019, chấp hành xong án phí ngày 04/01/2019). Ngày 26/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 66/2019/HSST (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/8/2020, chưa chấp hành án phí), bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Hà Lê Hữu V và Đặng Văn N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, bị cáo V có bố là ông Hà Văn B được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo Đặng Văn N có ông nội là Đặng Văn S là liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng đối với các bị cáo khi lượng hình.

Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, do đó cần áp dụng mức án tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như phần đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự; nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy các bị cáo Hà Lê Hữu V thuộc diện hộ cận nghèo, Đặng Văn N thuộc diện hộ nghèo, các bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã tạm giữ 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đặng Văn N, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Đặng Văn N, giám định ngày 02/11/2024.

Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đặng Văn N, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Đặng Văn N, giám định ngày 02/11/2024.

Truy thu của bị cáo Hà Lê Hữu V số tiền 500.000 đồng do bán ma túy mà có.

[6] Về các nội dung khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Lê Hữu V và Đặng Văn N Công an huyện Chiêm Hóa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hà Lê Hữu V, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ. Anh Nguyễn Ngọc H không biết Hà Lê Hữu V sử dụng xe mô tô của mình để sử dụng vào việc phạm tội, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

[7] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38, Điều 47; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các Điều 135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Hà Lê Hữu V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Hà Lê Hữu V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 02/11/2024.

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn N 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/11/2024.

- Về vật chứng của vụ án:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đặng Văn N, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Đặng Văn N, giám định ngày 02/11/2024.

Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 16 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

Truy thu của bị cáo Hà Lê Hữu V số tiền 500.000 đồng.

- Về án phí: Bị cáo Hà Lê Hữu V và Đặng Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/02/2025).

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Chiêm Hóa;
  • - CQCSĐT CA huyện Chiêm Hóa;
  • - CQTHAHS CA huyện Chiêm Hóa;
  • - Bộ phận HSNV CA huyện Chiêm Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Trại tạm giam CATQ;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Lưu hồ sơ, án V.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lâm Hạnh Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Lê Hữu V có hành vi bán trái phép ma túy cho Nông Văn N...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger