|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày: 26 - 02- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Chí Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Xem;
- 2. Bà Trần Thị Thúy Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS, ngày 02 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS, ngày 10/02/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tào Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1986 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp Ô, xã C, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Tào Văn B, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1958; Vợ: Lâm Thị D - sinh năm 1986 (đã ly hôn) và Lê Thị Hồng X, sinh năm 1992 (đã ly hôn); Con ruột: 02 (hai) người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: Ngày 22/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè xử phạt số tiền 10.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”, ngày 10/9/2024, đã chấp hành xong bản án; Tiền sự: Không có; Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè truy tố về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/10/2024 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
- 1- Anh Thạch H, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp Ô, xã C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- 2- Anh Phan Văn N, sinh năm 1998. Nơi cư trú: ấp Ô, xã C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- 3- Anh Hồ Ngọc T1, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 06/09/2024, bị cáo Tào Văn T một mình điều khiển xe mô tô biển số 84K1-612.36 đi đến nhà của bà Thạch Thị T2, sinh năm 1967, cư trú ấp Ô, xã C, huyện C, tỉnh Trà Vinh để uống rượu. Tại khu vực nhà bếp của bà T2, T uống rượu cùng với Hồ Ngọc T1, sinh năm 1973, cư trú khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; Thạch H, sinh năm 1981, cư trú ấp Ô, xã C, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Phan Văn N, sinh năm 1998, cư trú ấp Ô, xã C, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Trần Trung D1, sinh năm 1971 (ba vợ của Nhiều), cư trú ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh và ông Võ Thanh B1, sinh năm 1976, cư trú ấp L, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bà T2 đi vào phòng để ngủ, còn lại tất cả tiếp tục ngồi uống rượu. Được một lúc thì ông D1 đi về trước, sau đó ông B1 cũng đi về chòi vịt để ngủ. Sau khi uống rượu xong, đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo cùng với T1, N, H thấy trong nhà bà T2 có để sẵn 02 (hai) bộ bài bài Tây, loại 52 lá nên tất cả đã thống nhất cùng nhau chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài cát tê 06 lá.
Thoả thuận mỗi ván cá cược là 10.000 đồng, nếu người chơi thắng tới thì 03 (ba) người còn lại chung cho người thắng 30.000 đồng, nếu thắng đúp thì 03 (ba) người còn lại chung cho người thắng 60.000 đồng. Kết thúc ván bài, người thua chung tiền mặt trực tiếp cho người thắng, sau đó người thắng thực hiện việc chia bài chơi ván kế tiếp, không có quy định người nào làm nhà cái. Sau khi thống nhất cách chơi và số tiền cá cược, bị cáo và các đối tượng tham gia chơi đánh bạc nhiều ván, đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và lập biên bản sự việc. Tạm giữ tại hiện trường 02 (hai) bộ bài Tây, loại 52 lá và số tiền trên chiếu bạc 200.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định bị cáo cùng các đối tượng đánh bạc sử dụng số tiền đánh bạc và thắng thua khi lực lượng Công an lập biên bản, cụ thể như sau:
- - Bị cáo Tào Văn T sử dụng số tiền 600.000 đồng để đánh bạc, kết quả không thắng, không thua.
- - Thạch Hăng sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua hết số tiền trên.
- - Hồ Ngọc T1 không nhớ mang theo bao nhiêu tiền, kết quả có thắng, có thua. Tại thời điểm bị Công an phát hiện và tạm giữ trên người T1 có số tiền 1.240.000 đồng.
- - Phan Văn N sử dụng số tiền 1.600.000 đồng để đánh bạc, kết quả thắng được 300.000 đồng.
Số tiền bị cáo và các đối tượng H, T1, N sử dụng dùng vào việc đánh bạc là 3.940.000 đồng, chưa đủ định lượng cấu thành tội “Đánh bạc” theo Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, qua thu thập tài liệu, xác định vào ngày 22/12/2015, Tào Văn T bị Toà án nhân dân huyện Cầu Kè xử phạt số tiền 10.000.000 đồng về hành vi “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Đến ngày 10/9/2024, Tào Văn T chấp hành xong bản án nhưng chưa được coi là hết thời hạn xoá án tích theo Điều 70 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi đánh bạc trái phép của Tào Văn T vào ngày 06/9/2024 đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi tham gia đánh bạc trái phép vào ngày 06/9/2024 của Thạch H, Hồ Ngọc T1 và Phan Văn N chỉ vi phạm hành chính nên Công an xã C căn cứ vào điểm a, khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng với số tiền 1.500.000 đồng.
Địa điểm diễn ra đánh bạc tại nhà của bà Thạch Thị T2. Bà Thạch Thị T2 không tham gia tổ chức đánh bạc, không giúp sức việc đánh bạc và không hưởng lợi ích từ việc đánh bạc mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà T2.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng
- - Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật:
- + Tạm giữ tại hiện trường: 02 (hai) bộ bài Tây, loại 52 lá; số tiền trên chiếu bạc là 200.000 đồng không xác định được chủ sở hữu.
- + Tạm giữ trên người số tiền 3.740.000 đồng gồm: Bị cáo Tào Văn T số tiền 600.000 đồng, Hồ Ngọc T1 số tiền 1.240.000 đồng và Phan Văn N số tiền 1.900.000 đồng.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.140.000 đồng gồm: Hồ Ngọc T1 số tiền 1.240.000 đồng và Phan Văn N số tiền 1.900.000 đồng.
- + Số tiền bị cáo Tào Văn T dùng đánh bạc là 600.000 đồng và số tiền trên chiếu bạc là 200.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm gửi vào tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước huyện C và 02 (hai) bộ bài Tây, loại 52 lá, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè đã ra Quyết định chuyển vật chứng nói trên từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè để quản lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS -HS ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, truy tố bị cáo Tào Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Tào Văn T thừa nhận những hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh truy tố cũng như lời luận tội của vị Kiểm sát viên, bị cáo không tranh luận gì.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Tào Văn T phạm tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt như sau: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có ông nội ruột tên Tào Văn H1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Tào Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng cải tạo không giam giữ; Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo; đồng thời đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt bổ sung đối với bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Tào Văn T dùng đánh bạc là 600.000 đồng và số tiền trên chiếu bạc là 200.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm gửi vào tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước huyện C; Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài Tây, loại 52 lá, hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C để quản lý.
Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Tào Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo Tào Văn T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt những người làm chứng không rõ lý do. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Xét hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Tào Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè đã truy tố cũng như lời luận tội của vị Kiểm sát viên. Lời khai này của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ nhận định trên, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/9/2024, tại nhà của bà Thạch Thị T2 thuộc ấp Ô, xã C, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Tào Văn T cùng với các đối tượng Hồ Ngọc T1, Phan Văn N và Thạch H cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài cát tê 06 lá. Số tiền mà bị cáo Tào Văn T cùng các đối tượng sử dụng dùng tham gia đánh bạc là 3.940.000 đồng.
Mặc dù tổng số tiền bị cáo dùng để đánh bạc chưa đủ định lượng cấu thành tội đánh bạc, nhưng vào ngày 22/12/2015, Tào Văn T bị Toà án nhân dân huyện Cầu Kè xử phạt số tiền 10.000.000 đồng về hành vi “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đến ngày 10/9/2024, Tào Văn T chấp hành xong bản án nhưng chưa được coi là hết thời hạn xoá án tích theo Điều 70 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi đánh bạc của Tào Văn T vào ngày 06/9/2024 đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự; Do đó, Cáo trạng số 03/CT-VKS - HS ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Tào Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn ở địa phương, ảnh hưởng đến việc quản lý hành chính của cơ quan nhà nước, bị cáo Tào Văn T đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè xử phạt 10.000.000 đồng về hành vi tổ chức đánh bạc. Bản thân bị cáo nhận thức được việc đánh bạc dưới hình thức đánh bài cát tê mà được thua bằng tiền bị pháp luật nghiêm cấm. Tuy nhiên, bị cáo vẫn không từ bỏ mà tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Thay vì bị cáo phải biết lo chí thú làm ăn để lo cho bản thân và gia đình, giáo dục con cái về nhân cách, ý thức chấp hành pháp luật. Không làm được như vậy, mà bị cáo chỉ vì ham mê tham gia đánh bạc hình thức đánh bạc trái phép mà được, thua bằng tiền và muốn có lợi ích bất chính mà bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật nên cố ý vi phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm bị cáo bằng một hình phạt phù hợp để răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Tào Văn T trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo có ông nội ruột tên Tào Văn H1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51. Xét thấy bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, số tiền bị cáo dùng để đánh bạc không lớn, bị cáo Tào Văn T đang có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng cải tạo tại địa phương, do đó để tạo điều kiện cho bị cáo sửa lỗi, cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự, xử bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ, đồng thời giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Trà Vinh kết hợp với gia đình của bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cũng đủ để răn đe, đảm bảo đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo; Do bị cáo có nghề nghiệp không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập; áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt bổ sung buộc bị cáo Tào Văn T nộp 20.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
[5] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Tào Văn T dùng đánh bạc là 600.000 đồng và số tiền trên chiếu bạc là 200.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm gửi vào tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước huyện C; Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài Tây, loại 52 lá, hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C để quản lý.
[6] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy quan điểm của của vị Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tào Văn T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Tào Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Tào Văn T 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Tào Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục bị cáo; Gia đình bị cáo Tào Văn T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Trà Vinh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Tào Văn T.
Xử phạt bổ sung đối với bị cáo Tào Văn T số tiền 20.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Tào Văn T dùng đánh bạc là 600.000 đồng và số tiền trên chiếu bạc là 200.000 đồng, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm gửi vào tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước huyện C; Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài Tây, loại 52 lá, hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C để quản lý.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tào Văn T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Chí Công. |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Hồng Nga phạm tội đánh bạc
