|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 25/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm
Ông Lê Đăng Thiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tùng - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 09/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025;
Đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Huỳnh Chí C, sinh ngày 14/3/1991 tại: Xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...], cấp ngày 06/11/2020; con ông Huỳnh Văn S và bà Bùi Thị T; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có vợ là Phạm Thị T1 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền sự: Không;
- Họ và tên: Trịnh Công M, sinh ngày 01/6/1998 tại: Thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...], cấp ngày 17/8/2021; con ông Trịnh Công D và bà Đỗ Thị H; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; có vợ là Trần Thị H1; có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 10/05/2021, bị toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 45 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo bán án số 23/2021/HS-ST. Ngày 06/9/2021 đã nộp xong án phí. Ngày 31/8/2023 chấp hành xong hình phạt tù.
Nhân thân: Ngày 02/5/2017, bị Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Đánh bạc. Ngày 02/5/2017, Huỳnh Chí C đã chấp hành xong nộp phạt.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2024 đến nay. Có mặt.
Tiền án: Ngày 24/04/2024, bị Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng, theo Bản án số 35/2024/HS-ST. Ngày 11/6/2024 đã nộp xong án phí.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Bùi Thanh T2, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1978, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh A Lê Văn L, sinh năm 1987, địa chỉ: Khu phố X, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 16/10/2024, tổ Công tác của Đội Cảnh sát hình sự, kinh tế và ma tuý, Công an huyện T phối hợp với Công an Thị trấn L đang làm nhiệm vụ tại khu phố Đ, thị trấn L thì phát hiện và bắt quả tang Trịnh Công M, sinh năm 1998, trú tại khu phố Đ, thị trấn L, huyện T đang cất giấu tại mặt loa kéo đặt tại cửa phòng ngủ của M có 01(một) túi nilon màu trắng, viền đỏ, bên trong chứa 01 (một) gói giấy ăn màu trắng, mở ra bên trong gói giấy ăn có 01 (một) gói nilon màu hồng chứa 20 (hai mươi) viên nén màu hồng. Trịnh Công M khai báo 20 (hai mươi) viên nén màu hồng trên là ma tuý, loại hồng phiến của M cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời và trước đó M cũng đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của M phát hiện thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu hồng; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu S1 tab A7Lite màu xám; 01 (một) thẻ ngân hàng M1 mang tên Trịnh Công M, 01 (một) thẻ ngân hàng Al mang tên Đỗ Thị H.
Quá trình điều tra M khai nhận, bản thân thường xuyên sử dụng ma tuý loại hồng phiến, nên đã mua ma tuý loại hồng phiến về bán cho người khác kiếm lời và để sử dụng. M khai nhận ngày 02/10/2024, đã bán chất ma tuý cho Lê Văn L (sinh năm 1987 trú tại khu phố X, thị trấn S, T) với số lượng 06 (sáu) viên ma tuý loại hồng phiến để lấy 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) bằng cách nhận tiền qua tài khoản. Ngoài ra M không bán ma tuý cho ai khác. Về nguồn gốc ma tuý M khai báo đã mua ma tuý của Huỳnh Chí C (sinh năm 1991, trú tại xã M, huyện N, Thanh Hóa) nhiều lần, lần gần nhất M mua ma tuý của C là vào ngày 05/10/2024 với số lượng 150 (một trăm năm mươi) viên ma tuý loại hồng phiến với giá 5.000.000đ (năm triệu đồng). Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn L không phát hiện thu giữ đồ vật tài liệu gì. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huỳnh Chí C phát hiện thu giữ: Một thẻ sim V có dãy số trên thân sim là 8984048000902359151; Một thẻ sim viettel có dãy số trên thân sim là 8984048000905184082; Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53 màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0345823132 và 0924444688; Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro vỏ màu tím, gắn thẻ sim số thuê bao 0363140389.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1174/QĐ-ĐCSMT ngày 17/10/2024, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh T giám định chất ma tuý. Tại bản kết luận giám định số 3962/KL-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 20 (hai mươi) viên nén màu hồng hình tròn của phong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 1,928 g (một phẩy chín hai tám gam) loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định, Huỳnh Chí C và Trịnh Công M có quen biết nhau từ trước và cả hai thường xuyên liên lạc với nhau qua tài khoản Zalo. M sử dụng tài khoản Zalo tên “Đô Mi Nô” được đăng ký bằng số điện thoại 0868.242.xxx, còn C sử dụng tài khoản Zalo tên “Bảo Trâm” được đăng ký bằng số điện thoại 0363.140.xxx. Ngoài ra M còn sử dụng số điện thoại 0945.647.xxx, C còn sử dụng số điện thoại 0978.853.xxx để liên lạc với nhau. Cả C và M đều sử dụng ma tuý loại hồng phiến và hay chơi các loại game đổi thưởng trên mạng xã hội. Vào khoảng 16 giờ ngày 03/10/2024, M nhắn tin trên ứng dụng Messenger với C hỏi mua ma tuý loại hồng phiến với số lượng ba đàn (quá trình trao đổi nhắn tin mua bán ma tuý, C và M sử dụng tiếng lóng để tránh nói trực tiếp liên quan đến ma tuý, 01 đàn/200 viên ma tuý loại hồng phiến). C trả lời M là người bán ma tuý vừa xuống đến nơi và bảo M chuyển tiền, mỗi đàn có số tiền phải trả là 5.000.000đ (năm triệu đồng). M đồng ý chuyển tiền cho C để C bán ma tuý cho M. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, C bảo M chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Thương Mại cổ phần Á số tài khoản 17658331 mang tên Vũ Văn T3 (đây là tài khoản nạp tiền vào game Jun88) để C bán ma tuý cho M. M sử dụng tài khoản ngân hàng N1 để chuyển đến tài khoản tên Vũ Văn T3 số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng). Sau khi M chuyển tiền, C nói lại là chưa nhận được tiền trong Game, M kiểm tra lại thì thấy C chưa nhắn thông tin mã code nên chưa nhận được tiền vào Game. Sau đó C đã liên hệ với tổng đài hỗ trợ của G và nhận được số tiền mà M chuyển vào game của C. Khi đã nhận được tiền, do chưa có sẵn ma tuý nên C không giao ma tuý cho M ngay. Đến ngày 05/10/2024, C mua được một gói ma tuý hồng phiến số lượng 200 (hai trăm) viên của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ, người này khoảng 50 tuổi, cao 1,6m, dáng người gầy, là người dân tộc Thái. C gặp người đàn ông này tại khu vực cách ngã tư N theo hướng về huyện T khoảng 1km. C gặp trực tiếp người đàn ông này để mua ma tuý với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) được 200 viên ma tuý loại hồng phiến. C lấy ra 150 (một trăm năm mươi viên) và gọi điện thoại cho M để hẹn giao ma tuý, còn 50 (năm mươi) viên ma tuý còn lại C đã sử dụng một mình hết. M nói M đang ở trong nhà bà ngoại ở xã X, T nên nói với C đi đến nhà bà của M ở thôn Đ, xã X, T để giao ma tuý. Trước đó M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36AM-000323 từ nhà ở khu phố Đ, thị trấn L lên nhà bà ngoại của M. Khoảng 30 phút sau thì C đến nơi, C đi một mình bằng xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, gắn biển kiểm soát 36A-974.65 từ nhà ở xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để xuống nhà bà ngoại của M ở thôn Đ, xã X, huyện T để giao ma tuý. Xuống đến nơi, C đi vào đầu cổng nhà, tại đây C để gói ma tuý đã được bọc sẵn bằng nilon trên cành cây bên trái đường cổng vào nhà bà ngoại của M và bảo M ra lấy. Lúc này, M nhờ C trở em trai là Trịnh Công Đ, sinh năm 2019 về nhà ở khu phố Đ, thị trấn L, còn M ra lấy gói mà tuý thì thấy trên trạc ba của một cành cây ở cổng nhà bà ngoại của M có 01 gói nilon, M biết bên trong chứa ma tuý mà C đến giao nên cầm lấy và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36AM-00323 đi về nhà. M về đến nhà trước, một lúc sau C mới chở em trai M về và để em M xuống ở đầu ngõ rồi đi vào nhà, còn C ra về. Số ma tuý này, C nói với M chưa đủ (ý là chưa đủ số lượng 03 đàn = 600 viên hồng phiến) mới có khoảng 150 viên hồng phiến, cầm sử dụng trước rồi sau có thì đưa thêm, còn không có thì C trả lại tiền. Lấy được ma tuý, M đem mang về nhà cất giấu để bán và sử dụng dần đến ngày 16/10/2024 còn 20 viên cất giấu chưa kịp bán cho ai thì bị Công an thu giữ. Đối với số ma tuý C đưa cho M, C và M tính bằng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) trừ vào số tiền M đã nạp vào Game cho C. Từ đó đến nay, C chưa đưa thêm ma tuý cho M lần nào, cũng chưa trả lại tiền cho M, số tiền 15.000.000₫ M đã chuyển cho C thì C đã nạp chơi game hết.
Vật chứng vụ án gồm :
01 (một) thẻ sim điện thoại viettel có dãy số trên thân sim là 8984048000902359151 và 01 (một) thẻ sim số thuê bao 0363.140.389, có dãy số trên thân sim là 8984048000918912339; 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T4, Lương Xuân N và các hình dấu của phòng K Công an T bên trong có toàn bộ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu H1 và 18 (mười tám) viên nén màu hồng hình tròn có tổng khối lượng 1,727g (một phẩy bảy hai bảy gam); 01 (một) thẻ ngân hàng thương mại cổ phần M1 mang tên Trịnh Công M, số thẻ 9704222078706819; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen có số imei 353985101727720 điện thoại gắn thẻ sim số thuê bao 0945647388, trên thân sim có dãy số 89840200011669559526, điện thoại vỡ màn hình, vỡ mặt sau.
Hiện đang được quản lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSTX ngày 21/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố: Các bị cáo Huỳnh Chí C và Trịnh Công M về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Chí C và Trịnh Công M phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”;
Về hình phạt đề nghị:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Huỳnh Chí C và Trịnh Công M. Riêng bị cáo M áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Chí C từ 35 (ba mươi lăm) tháng tù đến 38 (ba mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/10/2024.
+ Xử phạt bị cáo Trịnh Công M từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2024. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù của bản án số 35/2024/HS-ST, ngày 24/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) thẻ sim điện thoại viettel có dãy số trên thân sim là 8984048000902359151 và 01 (một) thẻ sim số thuê bao 0363.140.389, có dãy số trên thân sim là 8984048000918912339; 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T4, Lương Xuân N và các hình dấu của phòng K Công an T bên trong có toàn bộ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu H1 và 18 (mười tám) viên nén màu hồng hình tròn có tổng khối lượng 1,727g (một phẩy bảy hai bảy gam); 01 (một) thẻ ngân hàng thương mại cổ phần M1 mang tên Trịnh Công M, số thẻ 9704222078706819.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen có số imei 353985101727720 điện thoại gắn thẻ sim số thuê bao 0945647388, trên thân sim có dãy số 89840200011669559526, điện thoại vỡ màn hình, vỡ mặt sau.
Truy thu bị cáo Huỳnh Chí C số tiền 15.000.000 đ sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh. Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Ngày 05 tháng 10 năm 2024 tại thôn Đ, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Công M đã mua 150 viên hồng phiến là ma tuý loại Methamphetamine của Huỳnh Chí C với giá 5.000.000đ (năm triệu đồng) với mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Đến ngày 16 tháng 10 năm 2024 tại khu phố Đ, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Công an đã bắt quả tang M vẫn còn tàng trữ 20 viên hồng phiến (trong số 150 viên hồng phiến mua của C) tương đương 1,928g (một phẩy chín hai tám gam) ma tuý, loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra ngày 02 tháng 10 năm 2024 tại cầu L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Công M đã bán cho Lê Văn L 06 (sáu) viên ma tuý loại Hồng Phiến để lấy 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma tuý danh mục IIC, số thứ tự 247 các chất ma túy quy định trong Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính Phủ.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ cấu thành tội “mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội nên đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo M có cả ông ngoại và bà ngoại là người có công với Cách mạng và được tặng thưởng H2, Huy chương kháng chiến nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm khác. Vì vậy, hình phạt đối với tội phạm về ma túy cần phải nghiêm khắc, mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung. Xét các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần thiết xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo Trịnh Công M đang chấp hành hình phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo, nhưng lại phạm tội trong thời gian thử thách. Nên bị cáo phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của tội phạm lần này, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
[4] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét các bị cáo là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng của vụ án:
01 (một) thẻ sim điện thoại viettel có dãy số trên thân sim là 8984048000902359151 và 01 (một) thẻ sim số thuê bao 0363.140.389, có dãy số trên thân sim là 8984048000918912339; 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T4, Lương Xuân N và các hình dấu của phòng K Công an T bên trong có toàn bộ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu H1 và 18 (mười tám) viên nén màu hồng hình tròn có tổng khối lượng 1,727g (một phẩy bảy hai bảy gam); 01 (một) thẻ ngân hàng thương mại cổ phần M1 mang tên Trịnh Công M, số thẻ 9704222078706819. Đây xác định là công cụ phạm tội hoặc đồ vật có liên quan đến vụ án, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, hiện không còn giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen có số imei 353985101727720 điện thoại gắn thẻ sim số thuê bao 0945647388, trên thân sim có dãy số 89840200011669559526, điện thoại vỡ màn hình, vỡ mặt sau là công cụ phạm tội có liên quan đến vụ án, đang còn giá trị nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Toàn bộ số tang vật trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân theo đúng quy định của pháp luật.
- Đối với số tiền 15.000.000 đ M đã chuyển cho C với mục đích để mua ma tuý, đây là số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có nên cần truy thu, sung quỹ Nhà nước.
[6] Về các tình tiết liên quan đến vụ án:
Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36AM-00323 xác định là xe của chị Trần Thị H1 (sinh năm 1998, trú tại khu phố Đ, thị trấn L), chị H1 không biết việc M sử dụng xe vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra không thu giữ chiếc xe này là phù hợp.
Đối với 06 (sáu) viên ma tuý mà M bán cho L vào ngày 02/10/2024 là M khai mua của C một lần khác, tuy nhiên M không nhớ rõ cách thức mua và số lượng ma tuý đã mua, C cũng không thừa nhận, cụ thể ngày 02/10/2024 M đã bán cho L 06 viên hồng phiến để lấy tiền 800.000 đồng. L sử dụng tài khoản ngân hàng M2, chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng N2, số tài khoản 190004929911 mang tên DO THI HUE, là tài khoản ngân hàng mang tên mẹ đẻ của M nhưng M sử dụng. Sau khi nhận được tiền của L chuyển, M bỏ số ma tuý bán cho L vào vỏ bao thuốc lá Thăng L1, rồi để cạnh cột mốc trên đường H, đoạn gần cầu L ở xã T, huyện T. Sau đó, M gọi điện chỉ vị trí để ma tuý cho L để L đến lấy. Quá trình đi chuyển từ nhà tại khu phố X, thị trấn S, huyện T đến điểm nhận ma tuý và đem ma tuý về nhà thì Lê Văn L đều vẫy một taxy dọc đường, không nhớ rõ biển số xe, hãng xe. Từ ngày 03/10/2024 đến ngày 05/10/2024 khi không có vợ con ở nhà, L đã một mình sử dụng hết 06 viên ma tuý, mục đích L mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân. Số tiền mua tuý của L do lao động mà có.
Tiến hành làm rõ việc C bán ma tuý cho M nhiều lần khác, tuy nhiên không có căn cứ xác định việc C bán ma tuý cho M nhiều lần khác ngoài ngày 03/10/2024.
Cơ quan điều tra tiến hành tét các chất ma túy đối với Trịnh Công M và Huỳnh Chí C kết quả: M và Cường dương T5 với chất ma túy loại Methamphetamine.
Chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K3 màu trắng gắn BKS: 36A-974.65 Cường mượn của anh Bùi Thanh T2, trú tại thôn M, xã M, N, T2 là em họ của C. Chiều ngày 05/10/2024 C có lên nhà T2 mượn xe đi xuống T. Anh T2 không biết việc C sử dụng xe vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã không thu giữ chiếc xe này là phù hợp.
Đối với bà Đỗ Thị H, không biết việc con trai mình là Trịnh Công M mua bán ma túy và cất giữ ma túy tại nhà để bán nên không phạm tội.
Đối với Lê Văn L, sau khi mua ma tuý loại Hồng phiến của M vào ngày 02/10/2024 về thì L đã sử dụng một mình hết số ma tuý này. Ngày 16/10/2024 tiến hành test kiểm tra các chất ma tuý thì L âm tính, do đó không có căn cứ để xử lý.
Đối với nguồn gốc số ma tuý Huỳnh Chí C bán cho Trịnh Công M, C khai mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ ở tại đường H thuộc đoạn qua địa phận thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cách ngã tư đèn xanh đèn đỏ khoảng 01 km hướng đi về huyện T. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người bán ma tuý cho C là ai, nên không có căn cứ xử lý.
Đối với 01 (một) thẻ ngân hàng Al mang tên Đỗ Thị H, số thẻ 0704051061885458; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng có số imei: 353336077581917 gắn thẻ sim số thuê bao 0857976538 và 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu S1 tap A7 Lite màu xám có số imei: 354338760515680, không gắn thẻ sim. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho chủ sở hữu là bà Đỗ Thị H. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, số imeil: 865822055015490, số imei2: 865822055015482, gắn thẻ sim số thuê bao 0345823132 và 0924444688. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho chủ sở hữu là cháu Huỳnh Thị Bảo T6. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro màu đen số imei 357627949954720, gắn thẻ sim số thuê bao 0363140389. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H3 là phù hợp.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Huỳnh Chí C và Trịnh Công M. Riêng bị cáo M áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Chí C và Trịnh Công M phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”;
- - Xử phạt bị cáo Huỳnh Chí C 38 (ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/10/2024.
- - Xử phạt bị cáo Trịnh Công M 33 (ba mươi ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù của bản án số 35/2024/HS-ST, ngày 24/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án là 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí: Các bị cáo Huỳnh Chí C và Trịnh Công M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) thẻ sim điện thoại viettel có dãy số trên thân sim là 8984048000902359151 và 01 (một) thẻ sim số thuê bao 0363.140.389, có dãy số trên thân sim là 8984048000918912339; 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T4, Lương Xuân N và các hình dấu của phòng K Công an T bên trong có toàn bộ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu H1 và 18 (mười tám) viên nén màu hồng hình tròn có tổng khối lượng 1,727g (một phẩy bảy hai bảy gam); 01 (một) thẻ ngân hàng thương mại cổ phần M1 mang tên Trịnh Công M, số thẻ 9704222078706819.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen có số imei 353985101727720 điện thoại gắn thẻ sim số thuê bao 0945647388, trên thân sim có dãy số 89840200011669559526, điện thoại vỡ màn hình, vỡ mặt sau.
Toàn bộ vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 20 ngày 22/01/2025.
Truy thu bị cáo Huỳnh Chí C số tiền 15.000.000 đ (mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Công |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sgs
