Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THÁI HOÀ

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 13/2025/HSST

Ngày 24 tháng 2 năm 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thanh Hải
  2. Ông Nguyễn Văn Quế

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hậu - Kiểm sát viên

Trong ngày 24 tháng 2 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 1 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 07/2/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Viết A, tên gọi khác: Không; sinh ngày 28 tháng 07 năm 2001 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nguyên quán: Xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi thường trú và chổ ở hiện nay: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hồ Viết S, sinh năm 1976; con bà: Biện Thị H, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến nay “có mặt”.

- Bị hại:

+ Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh V - Phòng G.

Địa chỉ: Khối K, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An

Người đại diện: Anh Nguyễn Quang Đ; sinh 1977

Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch; “có mặt”.

+ Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh N1 - Phòng G.

Người đại diện: Anh Nguyễn Anh T; sinh năm 1985

Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch; “vắng mặt”. (đã có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

Chị Biện Thị H; sinh năm 1978

Trú tại: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An “có mặt”.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 02/11/2024, Hồ Viết A một mình chuẩn bị 01 (một) thanh kiếm, có cán bằng gỗ dài 20cm, lưỡi kiếm bằng kim loại kích thước (54x05)cm, bên ngoài được bọc bằng vỏ gỗ kích thước (54x06)cm, điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE, màu đỏ đen, BKS 37G1-583.02 đi từ nhà đến khu vực thị xã T để tìm cây ATM. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, Hồ Viết A phát hiện 01 (một) cây ATM của Ngân hàng TMCP N chi nhánh V - Phòng G có địa chỉ tại số I - 97 - 99, đường N, khối K, phường H, thị xã T nên Hồ Viết A đi đến gần và dựng xe mô tô ở ngoài rồi đi bộ vào khu vực cây ATM. Sau khi quan sát thấy xung quanh không có ai, Hồ Viết A đã phá hỏng thiết bị che bàn phím và dùng thanh kiếm mang theo cạy phá cửa trả tiền, bộ phận trả tiền của cây ATM tuy nhiên không lấy được tiền nên Hồ Viết A đã thử bỏ 01 (một) thẻ ngân hàng B của Hồ Viết A vào nhưng vẫn không có kết quả. Sau khi quan sát thấy gần đó khoảng 20 mét có 01 (một) cây ATM của Ngân hàng TMCP S1, Chi nhánh N1, Phòng G có địa chỉ tại số 1, đường N, khối K, phường H, thị xã T nên Hồ Viết A điều khiển xe mô tô sang khu vực cây ATM và dùng chiếc kiếm mang theo cạy phá cây ATM đó nhưng không phá được. Sau đó Hồ Viết A quay lại khu vực cây ATM ban đầu của ngân hàng V1 để cạy phá nhưng vẫn không phá được nên Hồ Viết A điều khiển xe mô tô quay trở về nhà.

Kết luận định giá tài sản số 24/KLĐG ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

Các bộ phận bị hư hỏng của một máy rút tiền tự động (ATM), chủng loại SS34, số Serial Number 46761789, đã qua sử dụng của Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh V - Phòng G tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 02/11/2024 có giá trị là 21.666.000 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

Các bộ phận bị hư hỏng của một máy rút tiền tự động (ATM), chủng loại SS22, số Serial Number 43994192, đã qua sử dụng của Ngân hàng TMCP S1, Chi nhánh N1, phòng G tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 02/11/2024 có giá trị là 0 đồng.

Tổng giá trị tài sản thiệt hại của 02 (hai) máy rút tiền tự động (ATM) là 21.666.000 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS - TH ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố Hồ Viết A về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản" theo khoản 1 Điều 178 - BLHS.

2

Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS:

Xử phạt bị cáo Hồ Viết A từ 07 (bảy) đến 08 (tám) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh V - Phòng G trình có ý kiến đồng ý với kết quả định giá của Hội đồng định giá là các bộ phận bị hư hỏng của một máy rút tiền tự động (ATM), chủng loại SS34, số Serial Number 46761789, đã qua sử dụng của Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh V - Phòng G tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 02/11/2024 có giá trị là 21.666.000 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) nhưng với đặc thù là Các bộ phận bị hư hỏng của một máy không có thiết bị cũ có giá trị như Hội đồng định giá đã kết luận để thay thế mà phải thay thế các thiết bị hoàn toàn mới, nên giá trị bị thiệt hại mà thực tế Ngân hàng phải bỏ ra để khắc phục cho máy hoạt động là 70.510.000₫ (Bảy mươi triệu, năm trăm mười nghìn đồng) nên yêu cầu bị cáo Hồ Viết A phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Ngân hàng số tiền 70.510.000₫ (Bảy mươi triệu, năm trăm mười nghìn đồng) là thực tế thiệt hại do chi phí sửa chữa, thay thế các bộ phận của cây ATM bị Hồ Viết A làm hư hỏng; Tại phiên tòa Hồ Viết A đồng ý thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho Ngân hàng số tiền 70.510.000₫ (Bảy mươi triệu, năm trăm mười nghìn đồng) nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận trên.

Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh N1 - Phòng G không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

- Về vật chứng vụ án:

Các Vật chứng gồm: 01 (một) thanh kiếm dài, dạng một lưỡi sắc, có cán bằng gỗ dài 20cm, có lưỡi bằng kim loại kích thước (54x05)cm, bên ngoài được bọc bằng vỏ gỗ kích thước (54x06)cm, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật, kích thước (28x28x17)cm, được dán kín, bên trong có chứa các mảnh nhựa vỡ, kim loại và 03 (ba) đoạn dây cao su do không có giá trị sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điểm c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 47 BLHS tuyên tịch thu tiêu hủy

Vật chứng là 01 (một) thẻ ngân hàng do Ngân hàng TMCP Đ1 (B) phát hành, kích thước (5,5x8,5)cm; số thẻ 9704187326001691882 mang tên Hồ Viết A, đã qua sử dụng tại phiên tòa bị cáo trình bày hiện tại trong thẻ không có tiền và bị cáo

3

cũng không có nguyện vọng nhận lại nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE, màu đỏ đen, BKS 37G1 - 583.02 Hồ Viết A sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô thuộc quyền sở hữu của chị Biện Thị H (trú tại xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An). Chị H không biết việc Hồ Viết A sử dụng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 19/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu là chị Biện Thị H theo quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi liên quan không tranh luận với quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại là Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh N1 - Phòng G có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh N1 - Phòng G đã có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự. Trong quá trình điều tra đã có lời khai, ý kiến đầy đủ. Căn cứ vào Điều 292 BLTTHS, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị hại là Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh N1 - Phòng G.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã xác định được: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 02/11/2024, tại khu vực khối K, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Hồ Viết A đã sử dụng 01 (một) thanh kiếm, có cán bằng gỗ dài 20cm, lưỡi kiếm bằng kim loại kích thước (54x05)cm, bên ngoài được bọc bằng vỏ gỗ kích thước (54x06)cm để cạy phá 02 (hai) cây ATM của Ngân hàng TMCP N chi nhánh V, Phòng G và Ngân hàng TMCP S1, Chi nhánh N1, Phòng G làm hư hỏng bộ phận trả tiền, cửa trả tiền,

4

tấm che bàn phím máy ATM của Ngân hàng TMCP N chi nhánh V, Phòng G, gây thiệt hại 21.666.000 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) nên hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 - BLHS như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.

[4] Xét vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo ý thức được đập phá tài sản của người khác để chiếm đoạt tài sản là bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, nên phải chịu trách nhiệm hình sự và cần xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ các điều kiện để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vậy cần áp dụng Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51- BLHS để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh nguồn thu nhập ngày 15/11/2024 của Công an thị xã T, thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không xác định được thu nhập, vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh V - Phòng G có ý kiến đồng ý với kết quả định giá của Hội đồng định giá là các bộ phận bị hư hỏng của một máy rút tiền tự động (ATM), chủng loại SS34, số Serial Number 46761789, đã qua sử dụng của Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh V - Phòng G tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 02/11/2024 có giá trị là 21.666.000 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) nhưng với đặc thù là Các bộ phận bị hư hỏng của máy không có thiết bị cũ có giá trị như Hội đồng định giá đã kết luận để thay thế mà phải thay thế các thiết bị hoàn toàn mới, nên giá trị bị thiệt hại mà thực tế Ngân hàng phải bỏ ra để khắc phục cho máy hoạt động là 70.510.000₫ (Bảy mươi triệu, năm trăm mười nghìn đồng) nên yêu cầu bị cáo Hồ Viết A phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Ngân hàng số tiền 70.510.000₫ (Bảy mươi triệu, năm trăm mười nghìn đồng) là thực tế thiệt hại do chi phí sửa chữa, thay thế các bộ phận của cây ATM bị Hồ Viết A làm hư hỏng; Tại phiên tòa Hồ Viết A đồng ý thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho Ngân hàng số tiền 70.510.000₫ (Bảy mươi triệu, năm trăm mười nghìn đồng); căn cứ Khoản 1 Điều

5

584; Điều 585; Khoản 1 Điều 586; Điều 589- Bộ Luật Dân sự, công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh V - Phòng G.

Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh N1 - Phòng G không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[8] Về vật chứng vụ án: Vật chứng gồm có 01 (một) thanh kiếm dài, dạng một lưỡi sắc, có cán bằng gỗ dài 20cm, có lưỡi bằng kim loại kích thước (54x05)cm, bên ngoài được bọc bằng vỏ gỗ kích thước (54x06)cm, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật, kích thước (28x28x17)cm, được dán kín, bên trong có chứa các mảnh nhựa vỡ, kim loại và 03 (ba) đoạn dây cao su do không có giá trị sử dụng nên căn cứ vào Điểm c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 47 BLHS tuyên tịch thu tiêu hủy.

Vật chứng là 01 (một) thẻ ngân hàng do Ngân hàng TMCP Đ1 (B) phát hành, kích thước (5,5x8,5)cm; số thẻ 9704187326001691882 mang tên Hồ Viết A, đã qua sử dụng tại phiên tòa bị cáo trình bày hiện tại trong thẻ không có tiền và bị cáo cũng không có nguyện vọng nhận lại nên tuyên tịch thu tiêu hủy theo điểm c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 47 BLHS.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE, màu đỏ đen, BKS 37G1 - 583.02 Hồ Viết A sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô thuộc quyền sở hữu của chị Biện Thị H (trú tại xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An). Chị H không biết việc Hồ Viết A sử dụng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 19/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã T đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu là chị Biện Thị H theo quy định nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 178; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Hồ Viết A 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 03/11/2024.

- Trách nhiệm dân sự: căn cứ Khoản 1 Điều 584; Điều 585; Khoản 1 Điều 586; Điều 589 - Bộ Luật Dân sự; Điều 13-Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 14/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC; Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Hồ Viết A và Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh V - Phòng G như sau:

6

bị cáo Hồ Viết A phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh V - Phòng G với số tiền là 70.510.000₫ (Bảy mươi triệu, năm trăm mười nghìn đồng).

-Vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 47 BLHS tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh kiếm dài, dạng một lưỡi sắc, có cán bằng gỗ dài 20cm, có lưỡi bằng kim loại kích thước (54x05)cm, bên ngoài được bọc bằng vỏ gỗ kích thước (54x06)cm, đã qua sử dụng; 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật, kích thước (28x28x17)cm, được dán kín, bên trong có chứa các mảnh nhựa vỡ, kim loại và 03 (ba) đoạn dây cao su; 01 (một) thẻ ngân hàng do Ngân hàng TMCP Đ1 (B) phát hành, kích thước (5,5x8,5)cm; số thẻ 9704187326001691882 mang tên Hồ Viết A, đã qua sử dụng.

Tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã T và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà.

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; các Điểm a, c Khoản 1 Điều 23; Khoản 8 Điều 26 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án): Buộc bị cáo Hồ Viết A phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 3.525.500đ (ba triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn, năm trăm đồng) án phí DSST.

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại là Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh V - Phòng G, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Biện Thị H có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. bị hại là Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh N1 - Phòng G vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án

7

nhân dân tỉnh Nghệ A1 trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hai;
  • - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND thị xã Thái Hòa;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa;
  • - UBND xã (nơi bị cáo cư trú);
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngoan

8

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thanh Hải

Nguyễn Văn Quế

Trần Thị Ngoan

9

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hai;
  • - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND thị xã Thái Hòa;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa;
  • - UBND xã (nơi bị cáo cư trú);
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ngoan

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HSST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN về hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 13/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Viết A -Cố ý làm hư hỏng tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger