Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số:13/2025/HS-ST

Ngày 21-02-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà

Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Chính

Ông Nguyễn Công Biên

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang và bà Đào Thu T - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 04 tháng 05 năm 1978 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: SỐ A T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện tại: Số A Lô G, tổ dân phố F, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh T2, và bà Nguyễn Thị N; vợ là Lê Thị Minh L, có 01 con, sinh năm 2012; tiền sự: Không; tiền án: 03 tiền án chưa xoá án tích:

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 362/2013/HSST ngày 25/10/2013 của Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 112/2017/HSST ngày 04/8/2017 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 145/2020/HS-ST ngày 05/6/2020 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Nhân thân: Có 03 tiền án đã xoá án tích:

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 29/HSST ngày 15/3/2000 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân và 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 18 tháng tù (đã xoá án tích).

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 74/HSST ngày 27/5/2003 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (đã xoá án tích).

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 194/HSST ngày 24/8/2005 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (đã xoá án tích).

Tạm giữ từ ngày 17/9/2024, chuyển tạm giam ngày 26/9/2024; có mặt.

2. Đặng Trung H, sinh ngày 06 tháng 01 năm 1991 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số B Đ, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số A Đà Nẵng, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn M và bà Đặng Thị Ngọc H1; vợ là Kiều Thị C, có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2021; tiền sự: Không; tiền án: 02 tiền án chưa xoá án tích:

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 53/2014/HSST ngày 08/5/2014 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 39/2014/HSST ngày 22/7/2014 của Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 10 năm tù về tội Cướp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số 53/2014/HSST buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 12 năm 06 tháng tù.

Nhân thân: Có 02 tiền án:

- Bản án Hình sự sơ thẩm 192/2005/HSST ngày 24/10/2005 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 02 năm tù về tội Cướp tài sản (không coi là án tích do thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi).

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/2009/HSST ngày 05/3/2009 của Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (không coi là án tích do thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi).

Tạm giữ từ ngày 17/9/2024, chuyển tạm giam ngày 26/9/2024; đến ngày 08/10/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.

Bị hại: Anh Lê Quang T3, sinh năm 1981, nơi thường trú: Ga.08.17CC V, Phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi ở hiện tại: Số C lô D khu thập thể công nhân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 13/09/2024, Nguyễn Thanh T1 đi xe ôm từ nhà đến chân cầu L, quận K, thành phố Hải Phòng với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, T1 đi bộ vào bãi để xe số F đường T, phường Q (nay là phường Đ), quận K, thành phố Hải Phòng, T1 quan sát thấy có 01 xe môtô nhãn hiệu Honda SH Mode màu trắng nâu Biển kiểm soát 15B2-275.40 của anh Lê Quang T3, sinh năm 1981; nơi thường trú: phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: số C, lô 4, khu tập thể công nhân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng để ở bãi không có người trông coi nên T1 đã dùng vam phá khoá kim loại dài khoảng 05cm (đã chuẩn bị từ trước) chọc phá ổ khoá điện của xe rồi nổ máy, điều khiển xe đi ra đường T tẩu thoát. Sau đó T1 điều khiển xe về nhà Phạm Ngọc H2, sinh năm 1966, trú tại: số B đường N, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng (H2 là bạn của T1) và gửi xe tại đây. Tiếp đó T1 nhờ H2 chở ra bến xe V lấy xe của T1, rồi cả hai đi về nhà H2. H2 đi vào trong nhà, còn T1 ở ngoài tự tháo Biển kiểm soát 15B2-275.40 và gắn Biển kiểm soát 15B1-667.48 (T1 đã chuẩn bị từ trước để tránh bị phát hiện) vào xe SH Mode vừa trộm cắp được, rồi T1 điều khiển xe môtô gắn Biển kiểm soát 15B1-667.48 trên đến bãi xe công cộng gửi, rồi lại gọi H2 đến đón cả hai về nhà H2 chơi, sau đó T1 đi về và đã vứt chiếc Biển kiểm soát 15B2-275.40. Đến tối ngày 13/9/2024 T1 gặp Đặng Trung H và nói: “Anh có cái xe SH Mode mới nhảy, em xem có đẩy được không?”. H hiểu là xe do T1 trộm cắp mà có nên đồng ý, nói: “Để mai xem xe thế nào.” Đến khoảng 19 giờ ngày 14/09/2024, T1 điều khiển xe Honda SH Mode gắn Biển kiểm soát 15B1- 667.48 đến khu vực trung tâm thương mại C1, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng để giao dịch với H. Sau khi xem xe, H đồng ý mua với giá 5.000.000 (năm triệu) đồng. H đưa trước cho T1 3.000.000 (ba triệu) đồng tiền mặt, còn nợ lại 2.000.000 (hai triệu) đồng và hẹn ngày hôm sau sẽ thanh toán nốt. T1 đồng ý và đưa xe cho H. Sau đó H điều khiển xe đi còn T1 bắt xe ôm về nhà, T1 đã tiêu sài hết số tiền trên.

Ngày 15/9/2024, anh T3 đã đến Công an phường Q trình báo về sự việc mình bị trộm cắp tài sản. Ngày 17/9/2024, T1 và H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận K đã tiến hành kiểm tra và thu giữ của T1 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Ablade Biển kiểm soát 15B3- 499.08 bên trong cốp xe có 01 thanh kim loại lục giác có một đầu dẹt dài 5,7cm; 01 thanh kim loại hình chữ L có chiều dài 12cm được quấn dây chun màu đen; 01 khẩu trang vải dài màu tím than có hoa văn sáng màu; 01 kính thời trang màu đen không rõ nhãn hiệu (đây là trang phục Tùng mặc khi đi trộm cắp tài sản) và 01 điện thoại Samsung A14 màu tím. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu của H 01 xe môtô nhãn hiệu Honda SH mode màu trắng nâu gắn Biển kiểm soát 15B1-66748; số máy JF51E-0309498; số khung RLHJF5129FY105226 và 01 điện thoại nhãn hiệu Honor X6b màu đen.

Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 17/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận K kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu trắng nâu có số máy JF51E-0309498; số khung RLHJF 5129FY105226 tại thời điểm bị xâm hại có giá trị là 34.500.000 (ba mươi tư triệu năm trăm nghìn) đồng.

Tại Kết luận giám định số 2753/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

“1. Biển kiểm soát 15B1-667.48 gửi giám định là biển giả.

2. Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda mang biển kiểm soát 15B1-667.48 có số khung RLHJF5129PY105226, số máy JF51E-0309498 là số nguyên thuỷ, không phát hiện thấy có sự tẩy xoá, sửa chữa các ký tự”.

Qua kiểm tra chiếc xe Honda có số khung RLHJF5129PY105226, số máy JF51E-0309498 là xe mô tô nhãn hiệu SH Mode biển kiểm soát 15B2-275.40.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSKA ngày 11 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T1 về tội Trộm cắp tài sản quy định điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đặng Trung H về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh T1.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Trung H.

Đề nghị xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thanh T1: 42 - 48 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.

Bị cáo Đặng Trung H: 24 – 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ, tạm giam.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy A14 có Imei 1: 357865262626463; Imei 2: 358164362626469 và 01 điện thoại HONOR X6b có Imei: 864572070973964; 864572071183969.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 thanh kim loại lục giác có một đầu dẹt dài 5,7cm; 01 thanh kinh loại hình chữ L có chiều dài 12cm được quấn dây chun màu đen; 01 khẩu trang vải dài màu tím than có hoa văn sáng màu; 01 kính thời trang màu đen không rõ nhãn hiệu, 01 biển kiểm soát 15B1-667.48

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lê Quang T3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.

Về tiền thu lợi bất chính: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.000.000₫.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng xét xử cho các bị cáo mức án thấp để sớm trở về với cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị hại đã được toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, xét thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự xét xử vắng mặt bị hại.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận:

Khoảng hơn 12 ngày 13/9/2024, tại khu vực bãi đỗ xe số F đường T, phường Q (nay là phường Đ), quận K, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Thanh T1 đã lợi dụng sơ hở anh của Lê Quang T3 trong việc quản lý tài sản nên có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu trắng nâu Biển kiểm soát 15B2-275.40 trị giá 34.500.000 đồng. Sau đó bị cáo T1 đã bán lại chiếc xe trên cho bị cáo Đặng Trung H, mặc dù biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nhưng bị cáo H vẫn mua chiếc xe trên với giá 5.000.000 (năm triệu) đồng để sử dụng làm phương tiện đi lại. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Đặng Trung H đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[4.1] Bị cáo Nguyễn Thanh T1 nhân thân có 03 tiền án chưa xoá án tích, cụ thể:

Bản án Hình sự sơ thẩm số 362/1013/HSST ngày 25/10/2013 của Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 28/01/2016, thi hành án dân sự xong ngày 10/7/2014 (chưa xoá án tích).

Bản án Hình sự sơ thẩm số 112/2017/HSST ngày 04/8/2017 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 11/4/2019, thi hành án dân sự xong ngày 18/9/2017 (chưa xoá án tích).

Bản án Hình sự sơ thẩm số 145/2020/HSST ngày 05/6/2020 của Toà án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 30/6/2023, chưa thi hành phần dân sự (chưa được xoá án tích).

Do bị cáo đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này là “Tái phạm nguy hiểm” phạm vào tình tiết định khung theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.

[4.2] Bị cáo Đặng Trung H mặc dù biết chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 15B2-275.40 trị giá 34.500.000 đồng là tài sản do trộm cắp mà có nhưng bị cáo H vẫn mua chiếc xe trên với giá 5.000.000 (năm triệu) đồng nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

[5] Tính chất vụ án là nghiêm trọng đối với tội Trộm cắp tài sản và ít nghiêm trọng đối với tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H nhân thân có 02 tiền án chưa xoá án tích:

Bản án Hình sự sơ thẩm số 53/2014/HSST ngày 08/5/2014 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đây là hành vi bị cáo H thực hiện sau hành vi của bản án số 39/2014/HSST ngày 22/7/2014 nhưng bị xét xử trước (chưa xoá án tích).

Bản án Hình sự sơ thẩm số 39/2014/HSST ngày 22/7/2014 của Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 10 năm tù về tội Cướp tài sản, tổng hợp hình phạt với Bản án số 53/2014/HSST buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 12 năm 06 tháng tù. Ngày 21/8/2024 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 24/10/2016 đã nộp xong án phí 200.000 đồng (chưa được xóa án tích). Bản án này là hành vi trước xử sau nên cũng không coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.

Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo H chỉ là “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6.2] Về nhân thân:

[6.2.1] Bị cáo T1 nhân thân có 03 tiền án:

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 29/HSST ngày 15/3/2000 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân và 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 26/6/2001, thi hành án dân sự xong ngày 14/12/2000.

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 74/HSST ngày 27/5/2003 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 09/02/2005, được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo Quyết định số 50/2008/QĐ-TA ngày 01/9/2008.

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 194/HSST ngày 24/8/2005 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 01/4/2008, thi hành án dân sự xong ngày 09/3/2009.

Căn cứ Điều 70, 73 Bộ luật Hình sự, 03 tiền án trên đều đã xoá án tích.

[6.2.2] Bị cáo H nhân thân có 02 tiền án:

- Bản án Hình sự sơ thẩm 192/2005/HSST ngày 24/10/2005 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 02 năm tù về tội Cướp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 28/12/2007, chưa thi hành án dân sự xong không coi là án tích do thời điểm phạm tội bị cáo H mới 14 tuổi 04 tháng 11 ngày.

- Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/2009/HSST ngày 05/3/2009 của Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong án phạt tù ngày 29/8/2010, chưa thi hành án dân sự xong (không coi là án tích do thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi).

Mặc dù các bản án trên đã xoá án tích hoặc không coi là có án tích nhưng vẫn coi các bị cáo T1, H có nhân thân xấu cần xem xét khi quyết định hình phạt.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

- Về hình phạt:

[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[10] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan công an đã thu giữ:

  • - 01 thanh kim loại lục giác có một đầu dẹt dài 5,7cm.
  • - 01 thanh kinh loại hình chữ L có chiều dài 12cm được quấn dây chun màu đen.
  • - 01 khẩu trang vải dài màu tím than có hoa văn sáng màu.
  • - 01 kính thời trang màu đen không rõ nhãn hiệu.
  • - 01 điện thoại Samsung Galaxy A14 có Imei 1: 357865262626463; Imei 2: 358164362626469.
  • - 01 điện thoại Honor X6b có Imei: 864572070973964; 864572071183969.
  • - 01 biển kiểm soát 15B1-667.48

Hội đồng xét xử xét:

- Đối với 01 thanh kim loại lục giác có một đầu dẹt dài 5,7cm; 01 thanh kinh loại hình chữ L có chiều dài 12cm được quấn dây chun màu đen; 01 khẩu trang vải dài màu tím than có hoa văn sáng màu; 01 kính thời trang màu đen không rõ nhãn hiệu, 01 biển kiểm soát 15B1-667.48 (là biển giả) đều là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A14 có Imei 1: 357865262626463; Imei 2: 358164362626469 và 01 điện thoại Honor X6b có Imei: 864572070973964; 864572071183969 là tài sản các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[11] Về tiền thu lợi bất chính: Bị cáo T1 sau khi chiếm đoạt tài sản của bị hại đã bán được 3.000.000đ. Đây là tiền thu lợi bất chính nên bị cáo phải nộp lại số tiền này.

[12] Về bồi thường dân sự: Bị hại là anh Lê Quang T3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

[13] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[14] Về các nội dung khác:

Đối với anh Phạm Ngọc H2 không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của T1, không biết nguồn gốc xe môtô nhãn hiệu SH MODE màu trắng nâu Biển kiểm soát 15B2 – 275.40; số máy JF51E- 0309498; số khung RLHJF 5129FY105226, T1 gửi tại nhà anh H2 là tài sản do T1 trộm cắp mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K không xử lý là có căn cứ.

Đối với xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 15B3-499.08 quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Lê Thị Minh L, sinh năm 1986; trú tại: tổ dân phố số F, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng (là vợ của bị cáo Nguyễn Thanh T1). Cơ quan điều tra Công an quận K đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe môtô cho chị L là phù hợp.

Đối với xe môtô nhãn hiệu Honda SH Mode màu trắng nâu có số máy JF51E-0309498; số khung RLHJF 5129FY105226, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị hại là anh Lê Quang T3, Cơ quan điều tra Công an quận K đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe môtô cho anh T3 là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh T1.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Trung H.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T1 phạm tội Trộm cắp tài sản; bị cáo Đặng Trung H phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Xử phạt:

1.Bị cáo Nguyễn Thanh T1: 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2024.

2.Bị cáo Đặng Trung H: 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2024 đến ngày 08/10/2024.

Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với bị cáo Đặng Trung H. Thời hạn Bảo lĩnh đối với bị cáo không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Samsung Galaxy A14 có Imei 1: 357865262626463; Imei 2: 358164362626469 và 01 điện thoại HONOR X6b có Imei: 864572070973964; 864572071183969.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 thanh kim loại lục giác có một đầu dẹt dài 5,7cm; 01 thanh kinh loại hình chữ L có chiều dài 12cm được quấn dây chun màu đen; 01 khẩu trang vải dài màu tím than có hoa văn sáng màu; 01 kính thời trang màu đen không rõ nhãn hiệu, 01 biển kiểm soát 15B1-667.48

(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

3. Về thu lợi bất chính:

Bị cáo Nguyễn Thanh T1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Phòng PV 27 Công an TP. Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Kiến An;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự: trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger