TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST Ngày: 19/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Hoan và bà Vũ Thị Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với:
Bị cáo Trần Ngọc L, sinh ngày 13/7/1990; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Bá L1, sinh năm 1968 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1970; Có vợ là Hà Thị T1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2022;
Tiền án: + Bản án hình sự sơ thẩm số 119/2019/HSST ngày 31/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt Trần Ngọc L 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Gây rối trật tự công cộng” (chấp hành xong thời gian thử thách ngày 31/12/2020, chấp hành xong án phí hình sự ngày 28/4/2020).
+ Ngày 17/12/2021, Trần Ngọc L tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2022/HSST ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 09 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/7/2023, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 21/10/2022).
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Từ năm 2010 đến năm 2012, tham gia nghĩa vụ quân sự.
Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Triệu tập có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong tháng 12/2023, do cần tiền để kinh doanh xưởng may nên anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình đã 2 lần đến nhà Trần Ngọc L hỏi vay tổng số tiền là 100.000.000 đồng (mỗi lần vay 50.000.000 đồng). L đồng ý cho vay và thỏa thuận tính lãi 2.000.000 đồng/50.000.000 đồng/1 tuần; tiền lãi trả theo tuần, không xác định thời hạn trả nợ gốc, không cộng dồn lãi vào gốc. Hai bên có viết giấy nhận vay tiền nhưng không thể hiện lãi suất trong biên bản, anh T2 không phải cầm cố, thế chấp tài sản gì. Các lần cho vay, trả lãi đều chuyển qua tài khoản ngân hàng (tài khoản số 2221.8881.88888, mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q của L và tài khoản số 1233.4555.56789, mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q của anh T2). Đến ngày 15/6/2024, anh T2 đã trả cho L tổng số tiền lãi là 104.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 9.972.602 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 94.027.398 đồng. Cụ thể các khoản cho vay và thu lãi như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 04/12/2023, L cho anh T2 vay số tiền 50.000.000 đồng, trừ luôn tiền lãi của tuần đầu là 2.000.000 đồng nên chỉ chuyển khoản cho anh T2 48.000.000 đồng. Đến ngày 15/6/2024, anh T2 đã chuyển khoản, trả tiền lãi cho L 28 tuần, với tổng số tiền là 56.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 5.369.863 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 50.630.137 đồng. Anh T2 vẫn còn nợ L 50.000.000 đồng tiền nợ gốc.
Lần thứ hai: Ngày 20/12/2023, L cho anh T2 vay số tiền 50.000.000 đồng, trừ luôn tiền lãi của tuần đầu là 2.000.000 đồng nên chỉ chuyển khoản cho anh T2 48.000.000 đồng. Đến ngày 05/6/2024, anh T2 đã chuyển khoản, trả tiền lãi cho L 24 tuần, với tổng số tiền là 48.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo
mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 4.602.739 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 43.397.261 đồng. Anh T2 vẫn còn nợ L 50.000.000 đồng tiền nợ gốc.
Đến ngày 17/6/2024, do làm ăn thua lỗ nên anh T2 chưa có tiền để trả lãi và nợ gốc cho L. L đến nhà anh T2 đòi tiền nhưng không được. Ngày 24/7/2024, anh T2 làm đơn tố giác gửi Công an huyện T.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKSTT ngày 08/01/2025 truy tố bị cáo Trần Ngọc L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong bản Cáo trạng và xin HĐXX xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Ngọc L từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Phạt bổ sung bị cáo từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
- - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 5 Nghị quyết 01//2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn về việc xét xử tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đề nghị HĐXX tuyên: Buộc bị cáo Trần Ngọc L phải nộp số tiền 9.972.602 đồng để sung ngân sách nhà nước. Buộc anh Nguyễn Đức T2 nộp số tiền 100.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước. Buộc bị cáo Trần Ngọc L trả lại cho anh Nguyễn Đức T2 số tiền 94.027.398 đồng.
Ngoài ra bị cáo còn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo thấy việc làm của mình là sai, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử thấy có đủ lời khai của họ tại Cơ quan điều tra nên áp dụng điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên toà, bị cáo Trần Ngọc L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với đơn tố giác, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, và còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: Hợp đồng vay tiền giữa anh Nguyễn Đức T2 và Trần Ngọc L; Sao kê chi tiết giao dịch đối với tài khoản số 1233455556789 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, mang tên anh Nguyễn Đức T2, từ ngày 01/11/2023 đến ngày 15/6/2024; Công văn trả lời ngày 20/6/2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, chi nhánh T5 về việc cung cấp thông tin tài khoản số 222.1888.188888, chủ tài khoản Trần Ngọc L kèm theo bản sao kê chi tiết giao dịch từ ngày 02/10/2023 đến ngày 30/6/2024,...cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong tháng 12/2023, Trần Ngọc L đã hai lần cho anh Nguyễn Đức T2 vay tổng số tiền 100.000.000 đồng, mỗi lần 50.000.000 đồng với lãi suất 2.000.000 đồng/50.000.000 đồng/tuần, tương đương với lãi suất 208,5%/năm, gấp 10,42 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tính đến ngày 15/6/2024, xác định tổng số tiền lãi anh T2 đã trả cho L là 104.000.000 đồng, trong đó số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm quy định tại
Điều 468 Bộ luật Dân sự là 9.972.602 đồng, số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 94.027.398 đồng. Anh T2 vẫn nợ bị cáo số tiền gốc 100.000.000 đồng chưa trả. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Điều luật quy định như sau:
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
...
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về hoạt động tín dụng và trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo L là người có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ quy định của pháp luật về lãi suất cho vay nhưng vì hám lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2019 đã bị xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng”, năm 2021 bị xét xử về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải và có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật
Hình sự.
[5] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt nghiêm minh, áp dụng mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo. Do bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, phải nuôi con nhỏ nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Về hình phạt bổ sung, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục đích kiếm lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc xét xử tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự: Buộc bị cáo Trần Ngọc L phải nộp số tiền 9.972.602 đồng là số tiền tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự để nộp ngân sách nhà nước. Buộc anh Nguyễn Đức T2 nộp số tiền 100.000.000 đồng là số tiền nợ gốc anh T2 chưa trả lại cho bị cáo để nộp ngân sách nhà nước. Đối với số tiền thu lợi bất chính vượt mức lãi suất cao nhất 20%/năm theo quy định, HĐXX thấy cần buộc bị cáo Trần Ngọc L trả lại cho anh Nguyễn Đức T2 số tiền 94.027.398 đồng là đúng quy định của pháp luật.
[7] Các vấn đề khác trong vụ án:
[7.1] Về nguồn gốc số tiền 100.000.000 đồng bị cáo L cho anh Nguyễn Đức T2 vay là từ việc bị cáo kinh doanh cây cảnh mà có, không có sự bàn bạc, góp vốn với ai để thực hiện việc cho vay lãi nặng.
[7.2] Ngày 03/01/2024, anh Nguyễn Đức T2 hỏi vay của Trần Ngọc L số tiền 355.000.000 đồng để đáo hạn khoản vay của ngân hàng. L đồng ý và chuyển khoản cho anh T2 vay tiền, đến nay anh T2 chưa trả lại số tiền trên cho bị cáo L. Tài liệu điều tra xác định, L không lấy tiền lãi đối với khoản vay này, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý là phù hợp.
[7.3] Đối với các lần Trần Ngọc L chuyển tiền từ tài khoản số 2221.8881.88888 của mình đến tài khoản số 2680.1238.69999 mang tên anh Nguyễn Đức S, sinh năm 1993, trú tại xã K, huyện H, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra xác định tài khoản trên của anh S đã đưa cho anh Trần Thế A, sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố H, thị trấn D (em trai của bị cáo L) sử dụng từ cuối năm 2022; mục đích L chuyển tiền để nhờ em trai giữ hộ và mua bán chung mặt hàng gốm sứ Bát T3 không liên quan đến việc cho vay, trả lãi.
[7.4] Đối với một số giao dịch, chuyển tiền qua lại giữa tài khoản của bị cáo L và anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã T; anh Phạm Hữu K, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã T; anh Đỗ Mạnh T4, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố M, thị trấn D và anh Nguyễn Sĩ B, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố H, thị trấn D, tài liệu Cơ quan điều tra xác định việc chuyển tiền để kinh doanh chung với nhau, không liên quan đến việc cho vay, trả lãi.
[8] Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 36 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với Trần Ngọc L. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Thái Bình nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo Trần Ngọc L cho Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo.
Phạt bổ sung bị cáo 70.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn về việc xét xử tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:
- - Buộc bị cáo Trần Ngọc L phải nộp số tiền 9.972.602 đồng để sung ngân sách nhà nước.
- - Buộc anh Nguyễn Đức T2 nộp số tiền 100.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
- - Buộc bị cáo Trần Ngọc L trả lại cho anh Nguyễn Đức T2 số tiền 94.027.398 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nhưng người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành
không đầy đủ số tiền phải thi hành thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Ngọc L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 19/02/2025. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thùy Dung |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc L phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
