|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19-02-2025 V/v: Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Khắc Thái.
- Ông Hà Quang Văn.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Ngọc Tạo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngần – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 258/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐ-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Bị đơn: Chị Lâm Thị C1, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
Các đương sự vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 11 năm 2024, bản tự khai và các biên bản hòa giải, nguyên đơn anh Bùi Văn C trình bày: Anh Bùi Văn C và chị Lâm Thị C1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có thực hiện việc đăng ký tại Ủy ban nhân dân(UBND) xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình vào năm 2004. Sau khi cưới anh chị sinh sống tại thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Anh C xác định anh chị sống hạnh phúc khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về mọi mặt. Hiện nay anh chị đã ly thân, chị C1 bỏ ra ngoài thuê nhà ở, ban ngày đi làm công ty tối mới về. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị C1 vì vậy anh đề nghị cho anh được ly hôn với chị C1 để anh ổn định cuộc sống.
Về con chung: Anh C xác định anh và chị C1 có 03 con chung gồm: Cháu Bùi Thị Bạch D sinh ngày 18/8/2005, cháu Bùi Ngọc Á sinh ngày 06/6/2010, cháu Bùi Văn Công M sinh ngày 29/7/2012. Hiện nay cháu Bùi Thị Bạch D đã lấy chồng và ở riêng, chỉ còn cháu Ngọc Á và Công M đang ở với anh C. Anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi hai cháu Á và M và không yêu cầu chị C1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Lâm Thị C1: Theo xác minh hiện nay chị vẫn đang sinh sống tại Thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên khi Tòa án tống đạt các thông báo và giấy báo hợp lệ cho chị nhưng chị C1 vẫn không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gửi về cho Tòa án.
Ý kiến của cháu Á và cháu M: Các cháu đang ở với anh C và có nguyện vọng được tiếp tục ở với bố.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã tiến hành giải quyết theo quy định. Do chị C1 không đến tham gia các phiên hòa giải vì vậy vụ án không tiến hành hòa giải được, vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại đơn xin xử vắng mặt anh C vẫn giữ quan điểm xin ly hôn với chị Lâm Thị C1. Về con chung: Anh C có nguyện vọng tiếp tục nuôi con chung là cháu Bùi Ngọc Á sinh ngày 06/6/2010, cháu Bùi Văn Công M sinh ngày 29/7/2012, hiện hai cháu đang ở với anh C. Anh không yêu cầu chị C1 cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú tại xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Toà án nhân dân huyện Nho Quan thụ lý giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015.
- - Việc xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” là đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo về hình thức, nội dung.
- - Thời hạn gửi hồ sơ, văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát: Đảm bảo quy định của pháp luật, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Việc giao nộp tài liệu chứng cứ: Thực hiện đúng các quy định tại Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các tài liệu là bản sao đều có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 5, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTCQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí.
- Đề nghị xử:
- Xử ly hôn giữa anh Bùi Văn C và chị Lâm Thị C1.
- Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao các cháu Bùi Ngọc Á sinh ngày 06/6/2010, Bùi Văn Công M sinh ngày 29/7/2012, cho anh Bùi Văn C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập được cuộc sống. Chị Lâm Thị C1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C.
- Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
- Vì lợi ích của con, khi có lí do chính đáng một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
- Nguyên đơn anh Bùi Văn C phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định của pháp luật được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng anh C đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:
[2.1].Về hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị C1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống hạnh phúc được với nhau thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không hợp nhau về mọi mặt, thực tế hai bên đã ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của anh C với chị C1 là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2].Về nuôi con chung: Anh C và chị C1 có 03 con chung gồm: cháu Bùi Thị Bạch D sinh ngày 18/8/2005, cháu Bùi Ngọc Á sinh ngày 06/6/2010, cháu Bùi Văn Công M sinh ngày 29/7/2012. Hiện nay cháu Bùi Thị Bạch D đã lấy chồng và ở riêng, chỉ còn cháu Ngọc Á và Công M đang ở với anh C. Anh C có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cả hai cháu Á và cháu M, vì theo anh C từ khi vợ chồng ly thân chị C1 không quan tâm đến con cái, các cháu ở với anh ổn định, anh có khả năng nuôi cả hai cháu. Hội đồng xét xử xét thấy, anh C khỏe mạnh có thu nhập, các cháu có nguyện vọng tiếp tục ở với anh C, hiện nay cả hai cháu đều ở với anh C ổn định. Vì vậy việc giao cả hai cháu cho anh C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là đảm bảo quyền và lợi ích cho các cháu và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh C không yêu cầu nên không đặt ra việc xem xét giải quyết.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.4]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: anh Bùi Văn C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Các điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.
- Về hôn nhân: Cho anh Bùi Văn C ly hôn với chị Lâm Thị C1.
- Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao các cháu Bùi Ngọc Á sinh ngày 06/6/2010, Bùi Văn Công M sinh ngày 29/7/2012, hiện đang ở với anh C cho anh C tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Lâm Thị C1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Bùi Văn C phải chịu 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh C đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001423 ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (đã ký) Nguyễn Thị Hương Quỳnh |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH về ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn số 13
