|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/KDTM-ST
Ngày: 18-02-2025
V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Sơn Tây;
Ông Tống Văn Tâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 177/2024/TLST-KDTM ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST–KDTM ngày 07 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-KDTM ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Công ty TNHH P; trụ sở: Số C đường Đ, tổ A, ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Viết T, sinh năm 1990; thường trú: Tổ E, khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Giấy ủy quyền ngày 08/10/2024); có mặt.
-
- Bị đơn: Công ty TNHH G; trụ sở: Số C đường Đ, tổ E, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thụy Quỳnh N, chức danh: Giám đốc; thường trú: Số B, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Công ty TNHH P (Gọi tắt là Công ty P) và Công ty TNHH G (Gọi tắt là Công ty G) có ký Hợp đồng nguyên tắc số 01/PDW-GBT/2024 ngày 18/7/2024 để mua bán hàng hóa là ván ghép cao su.
Thực hiện theo thoả thuận và căn cứ vào nhu cầu của Công ty G, Công ty P đã 03 lần xuất hàng cho Công ty G và sau đó xuất Hóa đơn giá trị gia tăng để yêu cầu Công ty G thanh toán, cụ thể:
- - Lần 1: Hóa đơn số 256 ngày 21/08/2024 số tiền 202.541.472 đồng;
- - Lần 2: Hóa đơn số 258 ngày 21/08/2024 số tiền 405.082.944 đồng;
- - Lần 3: Hóa đơn số 267 ngày 28/08/2024 số tiền 198.490.643 đồng
Tổng số tiền hàng theo 03 hóa đơn là: 806.115.059 đồng.
Theo thoả thuận giữa hai bên thì sau 30 ngày kể từ ngày xuất hoá đơn thì Công ty G thanh toán cho Công ty P 100% giá trị hàng đã giao. Mặc dù, Công ty P đã thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa và đã xuất hóa đơn yêu cầu Công ty G thanh toán nhưng Công ty G đã cố tình vi phạm nghĩa vụ, không trả tiền cho Công ty P.
Xét thấy, việc Công ty G không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho Công ty P là vi phạm thỏa thuận của các bên, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty P. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Buộc Công ty TNHH G phải thanh toán cho Công Ty TNHH P số tiền hàng còn nợ là: 806.115.059 đồng.
- - Buộc Công ty TNHH G phải thanh toán cho Công Ty TNHH P số tiền lãi suất tương ứng với số tiền chậm thanh toán theo lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 Ngân hàng thương mại tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho đến thời điểm Toà án xét xử vụ án, tạm tính là ngày 30/12/2024, cụ thể như sau:
| Số Hoá đơn | Số tiền chậm thanh toán | Ngày xuất hoá đơn | Ngày đến hạn thanh toán | Thời hạn chậm thanh toán | Lãi xuất %/tháng | Tiền lãi xuất chậm thanh toán |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 256 | 202.541.472 | 21/8/2024 | 21/9/2024 | 3 tháng | 1.2 | 7.291.492 |
| 258 | 405.082.944 | 21/8/2024 | 21/9/2024 | 3 tháng | 1.2 | 14.582.985 |
| 267 | 198.490.643 | 28/8/2024 | 28/9/2024 | 3 tháng | 1.2 | 7.145.663 |
| Tổng | 29.020.140 đồng | |||||
Như vậy, tổng số tiền yêu cầu Công ty TNHH G phải thanh toán cho Công Ty TNHH P là: 806.115.059 đồng + 29.020.140 đồng = 835.135.199 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Công Ty TNHH P trình bày cụ thể về tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (18/02/2025) như sau:
- + Đối với hoá đơn số 256 tính lãi từ 21/9/2024 đến 18/02/2025 tính tròn là 04 tháng: 202.541.472 đồng x 4 tháng x 1,2%/tháng = 9.721.990 đồng;
- + Đối với hoá đơn số 258 tính lãi từ ngày 21/9/2024 đến 18/02/2025 tính tròn là 04 tháng: 405.082.944 đồng x 04 tháng x1,2%/tháng = 19.443.981 đồng;
- + Đối với hoá đơn số 267 tính lãi từ ngày 28/9/2024 đến 18/02/2025 tính tròn là 04 tháng: 198.490.643đồng x 04 tháng x 1,2%/tháng= 9.527.550 đồng;
Tổng tiền lãi: 38.693.521 đồng.
Như vậy, tổng số tiền Công ty TNHH P yêu cầu Công ty TNHH G phải thanh toán là 844.808.580 đồng, trong đó: Tiền hàng còn nợ là 806.115.059 đồng và tổng tiền lãi là 38.693.521 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ cho bị đơn, triệu tập nhiều lần nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH G không có mặt, không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt xem như tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công bố tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 844.808.580 đồng, trong đó: Tiền hàng còn nợ là 806.115.059 đồng và tổng tiền lãi là 38.693.521 đồng.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu thanh toán số tiền nợ theo hợp đồng mua bán hàng hoá, đây là tranh chấp giữa hai chủ thể kinh doanh là thương nhân và đều nhằm mục đích lợi nhuận nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” theo khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[1.2] Về thẩm quyền: Theo hợp đồng hai bên giao kết, các bên có thoả thuận nếu phát sinh tranh chấp thì được giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên nơi có trụ sở bị đơn giải quyết. Bị đơn có trụ sở tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên.
[1.3] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ người đại diện hợp pháp của bị đơn tham gia phiên tòa lần thứ hai theo quy định nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn tiếp tục vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng: Nguyên đơn cung cấp Hợp đồng nguyên tắc số 01/PDW-GBT/2024 ngày 18/07/2024 được ký giữa nguyên đơn và bị đơn với nội dung là nguyên đơn bán cho bị đơn hàng hoá là ván ghép cao su. Tiêu chuẩn kỹ thuật, số lượng và đơn giá theo từng đơn hàng cụ thể do hai bên thỏa thuận. Về hình thức thanh toán thì nguyên đơn sẽ xuất hoá đơn tài chính cho bị đơn, bị đơn có trách nhiệm thanh toán tiền cho nguyên đơn trong vòng 30 ngày kể từ ngày giao hàng và xuất hoá đơn giá trị gia tăng cho bị đơn. Do đó, Hợp đồng giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện.
[2.2] Về nghĩa vụ thanh toán: Nguyên đơn Công ty TNHH P yêu cầu bị đơn Công ty TNHH G thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là: 806.115.059 đồng. Chứng cứ để chứng minh yêu cầu là các hóa đơn số 256 ngày 21/8/2024, hóa đơn số 258 ngày 21/8/2024, hóa đơn số 267 ngày 28/8/2024.
Xét chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Phiếu xuất kho có ký nhận hàng, hóa đơn giá trị gia tăng, Công ty TNHH P xác định đã cung cấp hàng hóa cho Công ty TNHH G với tổng giá trị là 806.115.059 đồng là phù hợp với giá trị hàng hóa, hóa đơn Công ty TNHH G đã nhận. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là trái quy định tại Điều 50, Điều 55 Luật Thương mại. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền hàng còn nợ 806.115.059 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Về tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ:
Căn cứ các hoá đơn số 256, tính lãi từ 21/9/2024 đến 18/02/2025 tính tròn là 04 tháng: 202.541.472 đồng x 4 tháng x 1,2%/tháng = 9.721.990 đồng; hoá đơn số 258, tính lãi từ ngày 21/9/2024 đến 18/02/2025 tính tròn là 04 tháng: 405.082.944 đồng x 04 tháng x1,2%/tháng = 19.443.981 đồng; hoá đơn số 267, tính lãi từ ngày 28/9/2024 đến 18/02/2025 tính tròn là 04 tháng: 198.490.643 đồng x 04 tháng x 1,2%/tháng= 9.527.550 đồng. Tổng tiền lãi: 38.693.521 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Khoản 1 Điều 55 của Luật Thương mại quy định về thời hạn thanh toán:
“Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thời hạn thanh toán được quy định như sau:
1. Bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hóa ...”.
Điều 306 của Luật Thương mại quy định về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán như sau: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các khoản chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền lãi chậm thanh toán tới ngày 18/02/2025 với lãi suất 1,2%/ tháng là 38.693.521 đồng. Xét thấy, Hợp đồng mua bán đã ký giữa các bên không thoả thuận lãi suất chậm thanh toán. Theo mức lãi suất do Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B, Ngân hàng N1 – Chi nhánh thành phố T và Ngân hàng S – Phòng G1 – Chi nhánh B cung cấp xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình, nguyên đơn yêu cầu áp dụng 1,2%/tháng là phù hợp. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán với mức lãi suất nêu trên là phù hợp. Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán với với số tiền 38.693.521 đồng.
[3] Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn không tham gia tố tụng là đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng được pháp luật quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không trực tiếp tham gia tố tụng, bị đơn cũng không gửi văn bản nêu ý kiến của mình trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn dù biết rõ nếu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của mình. Điều này cho thấy bị đơn có ý thức không quan tâm và bỏ mặc cho hậu quả pháp lý có thể xảy ra. Xét tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận.
[5]. Về án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm: Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án thì bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều 147, Điều 233, Điều 227, Điều 228, Điều 257, Điều 266, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 50; Điều 55; Điều 306; Điều 319 của Luật thương mại;
- - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH P về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với bị đơn Công ty TNHH G;
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- - Buộc Công ty TNHH G phải chịu án phí số tiền 37.344.277 đồng (Ba mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- - Trả lại cho Công ty TNHH P số tiền 18.527.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004421 ngày 16/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Buộc Công ty TNHH G phải thanh toán cho Công ty TNHH P tổng số tiền số tiền 844.808.580 đồng (Tám trăm bốn mươi bốn triệu tám trăm lẻ tám nghìn năm trăm tám mươi đồng), trong đó: Tiền nợ gốc là 806.115.059 đồng và nợ lãi chậm thanh toán là 38.693.521 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thành Hiệp |
Bản án số 13/2025/KDTM-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 13/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH PĐ tranh chấp HĐMBHH với Công ty TNHH gỗ BT
