TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-PT Ngày 18 - 02 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền;
Ông Hoàng Văn Sỹ.
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Linh Chi - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:
Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 168/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo Phan Thị T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Phan Thị T và đồng phạm đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Phan Thị T, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1969; nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn K và bà: Nguyễn Thị Đ; chồng là Ngô Văn V; có 02 con, lớn sinh 1989, nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/3/2024, đến ngày 23/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn C, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1971; nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C1 và bà: Bùi Thị H; có vợ là Trần Thị M; có 05 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 21/7/1995 bị Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Phú xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi đánh bạc, ngày 21/7/1995 đã nộp phạt.
- Bản án số 11/2010/HSST ngày 18/5/2010 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc và bản án số 494/2010/HSPT của TAND tối cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc. Đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.
- Bản án số 13/2019/HSST ngày 11/4/2019 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội đánh bạc. Đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/3/2024, đến ngày 23/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
- Lê Văn H1, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1986; nơi cư trú: thôn G, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn H2 và bà: Nguyễn Thị T1; có vợ là Bùi Thị T2; có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010; tiền án,Tiền sự: không.
Nhân thân:
- Bản án số 16/2014/HSST ngày 18/3/2014 của TAND huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 tháng tù về tội đánh bạc. Đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/3/2024, đến ngày 23/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tam giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc có mặt tại phiên tòa.
- Trần Thị N, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1989; nơi cư trú: thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Q và bà: Trần Thị L; có chồng là Dương Văn Y (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Bản án số 407/2013/HSST ngày 25/9/2013 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội đánh bạc. Đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/3/2024, đến ngày 23/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
- Bùi Văn C2, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1980; nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn C3 và bà: Tô Thị Ả; có vợ là Nguyễn Thị T3; Con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại bản án số 94/2016/HSST ngày 23/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và bản án số 670/2017/HSPT ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt C2 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội “Đánh bạc”. Ngày 25/9/2017, C2 chấp hành xong án phí và tiền phạt sung ngân sách Nhà nước.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/3/2024, đến ngày 23/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tam giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc có mặt tại phiên tòa.
- Có các bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/3/2024, Lê Văn H1 đi chơi tại thành phố Hà Nội và mua 01 bộ thiết bị hỗ trợ đánh bạc xóc đĩa (bộ thiết bị đánh bạc bịp) của một người nam giới không quen biết gồm: 01 thiết bị báo rung hình hộp chữ nhật có gắn một sợi dây màu đen dạng xoắn lò xo; 01 chiếc máy màu nâu được gắn ăng ten bằng kim loại có nút bấm màu hồng, 01 chiếc máy dùng để soi kết quả dạng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, không lắp thẻ sim và 01 chiếc bát sứ màu trắng (loại bát hình). Sau khi mua được bộ thiết bị này thì H1 luôn cất giấu ở trong cốp xe mô tô của H1, để sử dụng đánh bạc khi có điều kiện.
Đến tối ngày 14/3/2024, Lê Văn H1 cùng Chu Văn B, Bùi Văn C2, Trần Thị N, Nguyễn Thị T4 và Nguyễn Thị T3 đến quán thịt chó “Vũ Chưởng” ở xã T, huyện V ăn tối. Quá trình ăn tối thì H1, N, T4, C2, B rủ nhau sau khi ăn xong sẽ về nhà Phan Thị T, sinh năm 1969 (ở thôn C, xã Đ) để đánh bạc, lúc này T3 cũng có mặt nhưng không tham gia bàn bạc, rủ nhau đánh bạc.
Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi ăn xong thì T4 có việc bận nên đi về, còn H1, C2, B, Như, T3 đi đến nhà T gặp T và chồng T là Ngô Văn V đang ở nhà nên tất cả vào ngồi chơi tại phòng khách nhà T. Một lúc sau có thêm Ngô Duy N1, Đỗ Văn K1 và Nguyễn Văn C, lần lượt đi đến nhà T. Tại đây, H1, B, C2, Như, N1, K1, C rủ nhau đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa ăn tiền tại nhà T và thống nhất sẽ nộp tiền hồ cho T trong quá trình đánh bạc. Khi thấy các đối tượng rủ nhau đánh bạc thì Phan Thị T đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình với mục đích để thu tiền hồ.
Sau khi cùng các đối tượng nêu trên thống nhất đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa ăn tiền xong thì Lê Văn H1 đi ra xe mô tô của H1 đang dựng ở sân nhà T lấy chiếc bát hình bằng sứ màu trắng trong bộ thiết bị đánh bạc bịp của H1 mang xuống bếp nhà T và để chiếc bát này lên trên mặt 01 chiếc đĩa sứ có sẵn trong bếp nhà T với mục đích để người nào chuẩn bị công cụ đánh bạc sẽ nhìn thấy và lấy bộ bát đĩa H1 chuẩn bị sẵn này mang lên cho mọi người đánh bạc. Sau đó, H1 gọi C2 ra sân và nói cho C2 biết việc H1 mua được 01 bộ thiết bị đánh bạc bịp, H1 rủ C2 cùng phối hợp với H1 sử dụng bộ thiết bị này để đánh bạc với những người khác thì C2 đồng ý. H1 đưa cho C2 01 chiếc máy màu nâu được gắn ăng ten bằng kim loại có nút bấm màu hồng và 01 chiếc máy dùng để soi kết quả dạng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, không lắp thẻ sim. H1 bảo C2 đứng bên ngoài để cảnh giới và quan sát kết quả chẵn hoặc lẻ hiện trên màn hình chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, rồi bấm máy báo rung cho H1 đặt cược. H1 sẽ cầm 01 thiết bị B1 hình hộp chữ nhật có gắn một sợi dây màu đen dạng xoắn lò xo và cài ở cạp quần để nhận tín hiệu từ C2, khi C2 bấm 01 lần thì máy sẽ rung 01 lần và H1 sẽ biết kết quả là lẻ, khi C2 bấm 02 lần thì máy sẽ rung 02 lần và H1 sẽ biết kết quả là chẵn. H1 và C2 cùng thống nhất tùy vào tình hình thực tế thì H1 và C2 sẽ đổi chỗ cho nhau, đồng thời tiền thắng bạc H1 và C2 sẽ chia đôi. Sau đó, H1 đi vào trong nhà T để cùng mọi người đánh bạc, còn C2 đứng ở ngoài sân để cảnh giới và báo kết quả cho H1. Lúc này, T đi xuống bếp nhà T thấy có 01 chiếc bát sứ đang úp sẵn trên 01 chiếc đĩa sứ mà H1 đã chuẩn bị từ trước nên T đã cầm bộ bát đĩa này lên và lấy 04 quân xóc bằng tre có một mặt màu vàng, một mặt màu đen đem lên trên phòng khách nhà T, rồi để bộ bát đĩa và các quân xóc này xuống chiếc thảm xốp màu xanh được trải sẵn trên nền nhà để cho các đối tượng đánh bạc với nhau (T không biết chiếc bát sứ và chiếc đĩa sứ mà T lấy nêu trên là do H1 chuẩn bị từ trước và không biết mục đích sử dụng thiết bị đánh bạc bịp của C2).
Sau khi T chuẩn bị xong các dụng cụ đánh bạc như nêu trên thì B, H1, C, K1, N1, N cùng ngồi xuống và đánh bạc với nhau bằng hình thức chơi xóc đĩa ăn tiền. Các đối tượng thống nhất để B là người xóc cái, có nhiệm vụ đặt 04 quân xóc lên đĩa, úp bát lên rồi xóc liên tục để đảo lộn các mặt quân, sau khi xóc xong Bảy sẽ đặt bát, đĩa xuống thảm để tất cả mọi người cùng đặt cược cửa chẵn hoặc cửa lẻ, với mức đặt cược thấp nhất là 50.000đ, nếu đặt cược nhiều hơn thì tùy thuộc vào người chơi tự thỏa thuận với nhau. Sau khi mở bát ra, nếu có 04 quân hoặc 02 quân cùng màu ngửa trên đĩa thì người đặt cược cửa chẵn thắng, nếu có 03 quân cùng màu ngửa trên đĩa thì người đặt cược cửa lẻ thắng. Người thắng sẽ được trả cho số tiền tương ứng với số tiền mình đặt cược do người chơi khác nhận cược trả hoặc cân đối lấy tiền cược của những người thua trả cho những người thắng.
Ngoài việc đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa ăn tiền thì Nguyễn Văn C còn đánh bạc với những người khác bằng hình thức chơi bảng vị, cụ thể: Chương lấy 04 quân bài tú lơ khơ gồm các quân 3 bích, 3 cơ, 4 bích, 4 cơ có sẵn ở trong nhà T rồi đặt xuống dưới thảm trước mặt C để nhận cược với những người nào muốn tham gia. Người chơi có thể chọn đặt cược vào các quân 3 bích, 3 cơ, 4 bích, 4 cơ. Căn cứ vào kết quả xóc đĩa, nếu khi mở bát có 03 quân đóm màu đen thì người đặt cược 3 bích sẽ thắng với tỉ lệ đặt 1 ăn 2,5; nếu mở bát có 03 quân đóm màu trắng thì người đặt cược 3 cơ sẽ thắng với tỉ lệ đặt 1 ăn 2,5; nếu mở bát có 04 quân đóm màu đen thì người đặt cược 4 bích sẽ thắng với tỉ lệ đặt 1 ăn 9; nếu mở bát có 04 quân đóm màu trắng thì người đặt 4 cơ sẽ thắng với tỉ lệ đặt 1 ăn 9; ngoài những trường hợp trên thì C sẽ thắng toàn bộ số tiền của người chơi đặt cược bảng vị.
Khi B, H1, C, K1, N1 và Như đánh bạc được khoảng 05 phút thì Tân thu của những người này mỗi người 200.000đ tiền hồ. Bảy, H1, C, K1, N1 và N đánh bạc với nhau được khoảng 20 phút thì Nguyễn Thị T4 đi đến nhà T và vào tham gia đánh bạc cùng. Khi T4 vào tham gia đánh bạc được khoảng 05 phút thì T tiếp tục thu tiền hồ của các con bạc. Tân thu của B, H1, C, K1, N1 và Như mỗi người 100.000đ và thu của T4 300.000đ. Tổng số tiền hồ mà T thu được của các con bạc là 2.100.000đ. Quá trình đánh bạc với nhau tại nhà T thì T, Ngô Văn V và Nguyễn Thị T3 không tham gia đánh bạc mà ngồi xem các đối tượng đánh bạc. Ngô Văn V không can ngăn các đối tượng đánh bạc mà đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà mình để vợ V là T thu tiền hồ của các đối tượng đánh bạc.
Bảy, H1, C, K1, N1, N và T4 đánh bạc tại nhà T đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, thì Công an huyện V phối hợp Công an xã Đ tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang các đối tượng đang đánh bạc tại nhà ở của T. Khi Cơ quan Công an vào bắt quả tang thì T và các đối tượng đánh bạc đã bỏ tất cả số tiền hồ, tiền sử dụng để đánh bạc xuống thảm xốp và bỏ chạy khỏi vị trí ngồi đánh bạc, còn anh Ngô Quang T5, sinh năm 1991 (con của T) đang ngủ tại nhà của mình cũng chạy vào nhà T để xem có chuyện gì xảy ra nên tất cả đã bị Cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng sử dụng để đánh bạc, gồm:
Thu tại chiếu bạc: Số tiền 76.770.000đ; 01 chiếc bát sứ màu trắng; 01 chiếc đĩa sứ màu trắng; 04 quân bài tulơkhơ gồm: 01 quân 3 bích, 01 quân 3 cơ, 01 quân 4 bích, 01 quân 4 cơ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bên trong máy không lắp thẻ sim; 01 thiết bị điện tử hình hộp chữ nhật, kích thước 5x3x1,2cm (được gắn một sợi dây màu đen dạng xoắn lò xo); 01 thiết bị điện tử màu nâu, kích thước (5x3x1)cm. Thiết bị này được lắp 01 ăng ten bằng kim loại và có 01 nút bấm màu hồng; 01 tấm thảm xốp màu xanh.
Thu giữ trên người các đối tượng 11 điện thoại di động các loại, gồm: Thu của Phan Thị T 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, loại máy 1280 màu đen, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0978.415.077; Chu Văn B 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, loại máy 1280 màu xanh dương, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0987.907.240; Nguyễn Văn C 01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone X màu đen, dung lượng 64Gb, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0846.923.123; Ngô Quang T5 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung, loại máy Galaxy A03S màu xanh dương, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0375.373.357; Lê Văn H1 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung, loại máy Galaxy A12 màu xanh dương, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0329.289.886; Ngô Duy N1 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung, loại máy Galaxy Note 10+ màu vàng, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0376.487.372; Bùi Văn C2 01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone XS màu vàng, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0968.847.551; Đỗ Văn K1 01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 12 Promax màu vàng, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0963.303.486; Ngô Văn V 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, kiểu máy CPH2159, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0392.074.681; Nguyễn Thị T4 01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone XR màu đỏ, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0358.998.519; Trần Thị N 01 điện thoại nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 14 Promax màu tím, điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0868.328.235.
Ngày 11/5/2024, Phan Thị T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 04 quân xóc đều được làm bằng tre, có kích thước dài 02cm, rộng 01cm và có một mặt màu đen, một mặt màu vàng. T khai nhận đây chính là 04 quân sóc mà các đối tượng sử dụng để đánh bạc tại nhà T vào ngày 14/3/2024, khi Cơ quan công an vào bắt quả tang thì các đối tượng đánh bạc đã vứt 04 quân xóc này vào gậm tủ để tivi kê ở trong nhà T và T đã tìm thấy trong quá trình dọn nhà nên T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận như sau: Phan Thị T khai mục đích T đồng ý cho các đối tượng đánh bạc tại nhà T là để thu tiền hồ, quá trình các đối tượng đánh bạc T đã thu được 2.100.000đ tiền hồ của các đối tượng đánh bạc, số tiền này T đã vứt xuống chiếu bạc khi Cơ quan Công an vào bắt quả tang; Ngô Văn V khai V không bàn bạc gì với T về việc cho các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình, không tham gia đánh bạc và cũng không chuẩn bị công cụ, phương tiện đánh bạc cho các đối tượng đánh bạc, bản thân V biết rõ việc các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của V và T nhưng V không căn ngăn mà đồng ý với việc T cho các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của V và T để T thu tiền hồ; Chu Văn B khai có 10.000.000đ sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thì B nộp cho T 300.000đ tiền hồ, khi bị bắt quả tang thì B đang bị thua bạc, toàn bộ tiền đánh bạc Bảy để dưới chiếu bạc; Ngô Duy N1 khai có 12.000.000đ sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thì N1 nộp cho T 300.000đ tiền hồ, khi bị bắt quả tang N1 đang thua bạc, toàn bộ tiền đánh bạc Nhật để dưới chiếu bạc; Đỗ Văn K1 khai có 11.500.000đ sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc K1 nộp cho T 300.000đ tiền hồ, khi bị bắt quả tang K1 đang thua bạc, toàn bộ tiền đánh bạc Kỳ để dưới chiếu bạc; Lê Văn H1 khai có 12.000.000đ sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc H1 nộp cho T 300.000đ tiền hồ, khi tham gia đánh bạc H1 và C2 cùng nhau phối hợp sử dụng thiết bị hỗ trợ đánh bạc, trong đó H1 là người trực tiếp đánh bạc, còn C2 là người đứng ngoài cảnh giới, soi kết quả rồi báo cho H1 để H1 đặt cược, quá trình sử dụng thiết bị hỗ trợ đánh bạc H1 đã thắng được số tiền 1.800.000đ, toàn bộ tiền đánh bạc H1 bỏ dưới chiếu bạc khi Cơ quan công an vào bắt quả tang; Nguyễn Văn C khai có 10.550.000đ sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc C đã nộp cho T 300.000đ tiền hồ, khi bị bắt quả tang C đang thua bạc, toàn bộ tiền đánh bạc C để ở dưới chiếu bạc; Trần Thị N khai có 10.400.000đ sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đã nộp cho T 300.000đ tiền hồ, toàn bộ tiền đánh bạc Như để dưới chiếu bạc khi bị bắt quả tang; Bùi Văn C2 khai khi đến nhà T để đánh bạc thì C2 đem theo số tiền 9.500.000đ mục đích để sử dụng đánh bạc, khi chuẩn bị đánh bạc thì H1 rủ C2 phối hợp với H1 sử dụng thiết bị hỗ trợ đánh bạc và giao cho C2 nhiệm vụ đứng bên ngoài cảnh giới cho các đối tượng đánh bạc, đồng thời sử dụng các thiết bị soi kết quả và báo kết quả cho H1 trực tiếp đánh bạc, tùy tình hình thực tế H1 và C2 sẽ đổi chỗ cho nhau và khi đổi chỗ C2 sẽ trực tiếp sử dụng số tiền mà C2 mang theo để đánh bạc, còn H1 sẽ là người cảnh giới, báo kết quả cho C2 đặt cược, tuy nhiên C2 và H1 chưa kịp đổi chỗ cho nhau thì đã bị Cơ quan Công an bắt quả tang, khi bị bắt quả tang C2 đã vứt toàn bộ thiết bị hỗ trợ đánh bạc và số tiền Chiến mang theo xuống chiếu bạc; Nguyễn Thị T4 khai có 820.000đ sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đã nộp cho T 300.000đ, khi bị bắt quả tang T4 đang thắng bạc, toàn bộ tiền đánh bạc T4 để dưới chiếu bạc. Tổng số tiền các đối tượng khai nhận sử dụng để đánh bạc là 76.770.000 đồng. Lời khai của các đối tượng phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Đối với Phan Thị T là người chuẩn bị công cụ đánh bạc đồng thời sử dụng nhà ở của mình để cho các đối tượng B, H1, C, K1, N1, N, T4, C2 sử dụng làm địa điểm đánh bạc với quy mô số tiền liên quan đến việc đánh bạc là 76.770.000 đồng, quá trình các đối tượng đánh bạc tại nhà T thì T đã thu được của các đối tượng đánh bạc 2.100.000đ tiền hồ. Vì vậy, hành vi của T đã cấu thành tội “Gá bạc” quy định tại khoản 1 Điều 322 BLHS.
Đối với Ngô Văn V là chồng T, quá trình điều tra xác định, mặc dù V và T không trao đổi, thống nhất với nhau từ trước về việc cho các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình để thu tiền hồ nhưng khi các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của V và khi T thu tiền hồ của các đối tượng đánh bạc thì V biết và chứng kiến toàn bộ sự việc nhưng không can ngăn, mà đã đồng ý để T sử dụng nhà ở của mình cho các đối tượng đánh bạc để thu tiền hồ. V khai lý do không ngăn cản việc T cho các đối tượng đánh bạc tại nhà ở của mình là vì V nhận thức được số tiền hồ Tân thu sẽ được sử dụng chi tiêu sinh hoạt chung của hai vợ chồng. Do vậy, hành vi của Ngô Văn V đã đồng phạm với T về tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 322 Bộ luật hình sự.
Đối với Chu Văn B, Lê Văn H1, Nguyễn Văn C, Đỗ Văn K1, Ngô Duy N1, Trần Thị N và Nguyễn Thị T4 là những người trực tiếp tham gia đánh bạc với tổng số tiền các đối tượng khai sử dụng để đánh bạc là 67.270.000đ nên hành vi của các đối tượng Chu Văn B, Lê Văn H1, Nguyễn Văn C, Đỗ Văn K1, Ngô Duy N1, Trần Thị N và Nguyễn Thị T4 đã cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS.
Đối với Bùi Văn C2 mặc dù không trực tiếp tham gia đặt cược để đánh bạc với các đối tượng Chu Văn B, Lê Văn H1, Nguyễn Văn C, Đỗ Văn K1, Ngô Duy N1, Trần Thị N và Nguyễn Thị T4. Tuy nhiên, bản thân C2 trước đó đã cùng với các đối tượng này bàn bạc, rủ nhau đánh bạc tại nhà T; khi đến nhà T thì C2 đã chủ động mang theo số tiền 9.500.000đ để sử dụng đánh bạc; khi B, H1, C, K1, N1, N và T4 đánh bạc thì C2 đứng ở ngoài cảnh giới cho các đối tượng này đánh bạc, đồng thời sử dụng thiết bị hỗ trợ đánh bạc để báo kết quả cho H1 trực tiếp đánh bạc nhằm thắng bạc; C2 và H1 cũng thỏa thuận với nhau về việc tùy vào tình hình thực tế C2 và H1 sẽ đổi chỗ cho nhau, C2 sẽ trực tiếp tham gia đánh bạc và sử dụng số tiền 9.500.000đ mang theo để đánh bạc, còn H1 sẽ sử dụng thiết bị hỗ trợ đánh bạc để báo kết quả cho C2, toàn bộ tiền thắng bạc C2 và H1 sẽ chia đôi, tuy nhiên C2 và H1 chưa kịp đổi chỗ cho nhau thì đã bị lực lượng Công an huyện V bắt quả tang và khi bị bắt quả tang C2 đã vứt toàn bộ số tiền Chiến mang theo xuống chiếu bạc. Như vậy, việc C2 chưa trực tiếp tham gia đánh bạc và sử dụng số tiền 9.500.000đ mang theo để đánh bạc là do sự kiện khách quan, nằm ngoài ý nghĩ chủ quan của C2. Vì vậy, hành vi của C2 đã đồng phạm với Chu Văn B, Lê Văn H1, Nguyễn Văn C, Đỗ Văn K1, Ngô Duy N1, Trần Thị N và Nguyễn Thị T4 về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS với vai trò đồng phạm giúp sức và toàn bộ số tiền 9.500.000đ C2 mang theo với mục đích để sử dụng đánh bạc được tính vào tổng số tiền liên quan đến việc đánh bạc của C2 và B, H1, C, K1, N1, N, T4.
Đối với việc Lê Văn H1 và Bùi Văn C2 đã sử dụng các thiết bị hỗ trợ đánh bạc (thiết bị đánh bạc bịp) khi tham gia đánh bạc với B, C, K1, N1, N, T4. Quá trình điều tra xác định các thiết bị này chỉ có tác dụng giúp H1 và C2 biết trước kết quả xóc cái với xác xuất chính xác cao chứ không hoàn toàn tuyệt đối bởi vẫn có những lúc không xem được kết quả do các quân xóc đè lên nhau hoặc nằm ngoài tầm quan sát của thiết bị và các thiết bị này không có tác dụng thay đổi được kết quả của ván bạc theo ý của C2 và H1 nên nếu người chơi chọn cược đúng cửa thì vẫn thắng. Mặt khác, trong quá trình điều tra H1 khai việc H1 và C2 sử dụng các thiết bị này để đánh bạc với B, C, K1, N1, Như, T4 mới chỉ thắng được số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) thì đã bị Cơ quan công an phát hiện bắt quả tang. Do vậy, hành vi sử dụng các thiết bị đánh bạc bịp để đánh bạc của H1 và C2 không cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự.
Đối với chị Nguyễn Thị T3 và anh Ngô Quang T5 là những người có mặt tại địa điểm đánh bạc khi Cơ quan Công an bắt quả tang các đối tượng đánh bạc. Quá trình điều tra xác định: chị T3 chỉ ngồi xem các đối tượng đánh bạc chứ không tham gia đánh bạc; còn anh T5 thì tối ngày 14/3/2024, khi anh T5 đang ngủ ở nhà (nhà anh T5 ở cùng khuân viên đất, chung sân, cạnh nhà T), thấy có lực lượng Công an huyện V ập vào nhà bố mẹ đẻ của anh T5 là địa điểm các đối tượng đang đánh bạc để bắt quả tang các đối tượng đánh bạc, anh T5 dậy và chạy vào theo để xem có chuyện gì thì bị Cơ quan Công an lập biên bản đưa về trụ sở Công an huyện V làm việc. Bản thân anh T5 và chị T3 không liên quan gì đến hành vi Đánh bạc và Gá bạc của các bị can T, V, B, H1, C2, C, K1, N1, N và T4. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý mà chỉ giáo dục, nhắc nhở đối với anh T5 và chị T3.
Đối với người nam giới đã bán cho H1 bộ thiết bị cờ bạc bịp. Quá trình điều tra, H1 khai chỉ biết người này khoảng 30 tuổi, H1 không tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này và không nhớ địa điểm H1 mua các thiết bị cờ bạc bịp của người này. Do vậy, Cơ quan điều tra chưa xác định được người này là ai, ở đâu nên tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 76.770.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc khi Cơ quan Công an bắt quả tang các đối tượng đánh bạc. Quá trình điều tra xác định đây là tiền của các đối tượng sử dụng liên quan đến việc đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc bát sứ màu trắng, 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 04 quân bài tulơkhơ gồm: 01 quân 3 bích, 01 quân 3 cơ, 01 quân 4 bích, 01 quân 4 cơ; 01 chiếc máy dùng để soi kết quả dạng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bên trong máy không lắp thẻ sim; 01 thiết bị điện tử hình hộp chữ nhật, có kích thước (5x3x1,2)cm, thiết bị này được gắn một sợi dây màu đen dạng xoắn lò xo; 01 thiết bị điện tử màu nâu, kích thước (5x3x1)cm, thiết bị này được lắp 01 ăng ten bằng kim loại và có 01 nút bấm màu hồng; 01 tấm thảm xốp màu xanh mà Cơ quan điều tra thu giữ tại địa điểm các đối tượng đánh bạc khi bắt quả tang và 04 quân xóc bằng tre đều có kích thước dài 02cm, rộng 01cm và có một mặt màu đen, một mặt màu vàng do Phan Thị T giao nộp. Quá trình điều tra xác định đây là những vật chứng được các bị can sử dụng làm công cụ dùng vào việc đánh bạc, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại máy 1280 màu đen, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0978.415.077 tạm giữ của Phan Thị T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại máy 1280 màu xanh dương, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0987.907.240 tạm giữ của Chu Văn B; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone X màu đen, dung lượng 64Gb, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0846.923.123 tạm giữ của Nguyễn Văn C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại máy Galaxy A12 màu xanh dương, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0329.289.886 tạm giữ của Lê Văn H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại máy Galaxy Note 10+ màu vàng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0376.487.372 tạm giữ của Ngô Duy N1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone XS màu vàng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0968.847.551 tạm giữ của Bùi Văn C2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 12 Promax màu vàng, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0963.303.486 tạm giữ của Đỗ Văn K1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, kiểu máy CPH2159, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0392.074.681 tạm giữ của Ngô Văn V; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone XR màu đỏ, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0358.998.519 tạm giữ của Nguyễn Thị T4; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple, loại máy Iphone 14 Promax màu tím, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0868.328.235 tạm giữ của Trần Thị N. Quá trình điều tra xác định những chiếc điện thoại di động này đều là tài sản hợp pháp của các bị can nêu trên và không sử dụng liên quan đến việc đánh bạc của các bị can nên cần trả lại cho các bị can T, V, B, H1, C2, C, K1, N1, N và T4 theo quy định, nhưng tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại máy Galaxy A03S màu xanh dương, bên trong lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0375.373.357 tạm giữ của anh Ngô Quang T5. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động và sim thuê bao này là tài sản hợp pháp của anh T5, không sử dụng vào việc vi phạm pháp luật. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả chiếc điện thoại di động và sim thuê bao nêu trên cho anh T5 là phù hợp. Nhận lại tài sản T5 không có ý kiến, đề nghị gì.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị T, Ngô Văn V phạm tội “Gá bạc”.
Các bị cáo Chu Văn B, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị N, Nguyễn Thị T4, Ngô Duy N1, Đỗ Văn K1 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Chu Văn B, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị N, Nguyễn Thị T4, Ngô Duy N1, Đỗ Văn K1.
Áp dụng: điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phan Thị T, Ngô Văn V.
Áp dụng: điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T4.
Áp dụng: khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Ngô Văn V, Ngô Duy N1, Đỗ Văn K1, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1.
Áp dụng: khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Ngô Văn V, Ngô Duy N1, Đỗ Văn K1
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đối với tất cả các bị cáo.
Xử phạt các bị cáo:
Phan Thị T 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024).
Nguyễn Văn C 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024).
Lê Văn H1 03 năm 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024).
Bùi Văn C2 03 năm 05 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024).
Trần Thị N 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024).
Về hình phạt bổ sung:
Phạt các bị cáo Chu Văn B, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị N, Nguyễn Thị T4, Ngô Duy N1, Đỗ Văn K1: Mỗi bị cáo phải chịu nộp số tiền 10.000.000 đồng, sung ngân sách nhà nước.
Phạt bị cáo Phan Thị T, Ngô Văn V: Mỗi bị cáo phải chịu nộp số tiền 20.000.000 đồng, sung ngân sách nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác là Nguyễn Thị T4, Ngô Văn V, Chu Văn B, Ngô Duy N1 và Đỗ Văn K1. Quyết định về án phí, xử lý vật chứng, tài sản bị thu giữ, quyền kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
- Ngày 30/10/2024 Bùi Văn C2 kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo hưởng án treo.
- Ngày 30/10/2024 Nguyễn Văn C kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ và cho bị cáo hưởng án treo.
- Ngày 05/11/2024 Lê Văn H1 kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo hưởng án treo.
- Ngày 06/11/2024 Trần Thị N kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo hưởng án treo.
- Ngày 30/10/2024 và ngày 15/11/2024 Phan Thị T kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị Như K2 rút đơn kháng cáo và đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị Như . Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V.
- Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:
- + Bị cáo Phan Thị T 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024) về tội “Gá bạc”.
- + Bị cáo Nguyễn Văn C 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024) về tội “Đánh bạc”.
- + Bị cáo Lê Văn H1 03 năm 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024) về tội “Đánh bạc”.
- + Bị cáo Bùi Văn C2 03 năm 05 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024) về tội “Đánh bạc”.
- + Bị cáo Trần Thị N 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024) về tội “Đánh bạc”.
- - Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Tối ngày 14/3/2024 tại nhà riêng của bị cáo Phan Thị T và bị cáo Ngô Văn V, thuộc địa phận thôn C, xã Đ, huyện V, các bị cáo Chu Văn B, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị N, Nguyễn Thị T4, Ngô Duy N1, Đỗ Văn K1 đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa, bảng vị với số tiền 76.770.000 đồng. Bị cáo Phan Thị T, Ngô Văn V đã cho các bị cáo khác trong vụ án mượn địa điểm và thu tiền hồ của các con bạc là 2.100.000đ để các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Thị T về tội “Gá bạc” và xét xử các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị N về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Các bị cáo cũng không thắc mắc về tội danh.
[3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo:
- Đối với bị cáo Phan Thị T: Sau khi phạm tội bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo nộp thêm tài liệu là “Huy chương kháng chiến” hạng nhì của ông Phan Huy K3 (theo lý lịch thì bố bị cáo là Phan Văn K) nên được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đơn trình bày chồng bị bệnh, xuất trình biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án huyện V thể hiện bị cáo tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm tổng là 20.200.000đ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo với mức án 01 năm 06 tháng tù là nhẹ so với hành vi thực hiện tội phạm và tính chất mức độ tội phạm của bị cáo. Do đó, mặc dù nay bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ nhưng Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là thỏa đáng và cần phải cách ly khỏi xã hội mới có tác dụng giáo dục. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo.
- Đối với các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị N:
Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo C có thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (có bố là người có công, được tặng thưởng huân huy chương), bị cáo H1 có thêm 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (có bố là người có công được tặng thưởng bằng khen trong chiến đấu và đã tích cực góp tiền ủng hộ đồng bào bão lũ trong cơn bão số 3 năm 2024). Tại cấp tòa phúc thẩm bị cáo Lê Văn H1 xuất trình biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án huyện V thể hiện bị cáo tự nguyện nộp 10.000.000đ tiền phạt bổ sung và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm, 01 đơn trình bày hoàn cảnh gia đình bố mẹ ốm đau, bệnh tật, con còn nhỏ. Bị cáo Nguyễn Văn C xuất trình biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án huyện V thể hiện bị cáo tự nguyện nộp 10.200.000đ tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm, phiếu thương tật của ông Nguyễn Văn C1 (bố bị cáo) bị cáo từng phải điều trị rối loạn nhịp tim. Bị cáo Trần Thị N xuất trình biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án huyện V thể hiện bị cáo tự nguyện nộp 10.000.000đ tiền phạt bổ sung và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Hội đồng xét xử thấy các bị cáo đều là những người có nhân thân từng bị giáo dục bằng bản án, quyết định xử lý hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, nay lại phạm tội (Bị cáo H1 và C2 còn đang bị khởi tố và tạm giam về hành vi đánh bạc trong vụ án khác) số tiền sử dụng để đánh bạc của các bị cáo lớn, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo. Bản án sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị N mức án nói trên là phù hợp và không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Việc các bị cáo Phan Thị T, Lê Văn H1, Nguyễn Văn C, Trần Thị N tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm sẽ được ghi nhận trong quá trình thi hành bản án.
[6] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị Như K2 được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị Như . Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt đối với các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị Như .
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phan Thị T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gá bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024.
3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024.
4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Văn C2 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024.
5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thị N 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/3/2024 đến 23/3/2024.
6. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Văn C, Lê Văn H1, Bùi Văn C2, Trần Thị N mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vĩnh Thành |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Vĩnh Thành
Xác nhận bị cáo Trần Thị N đã nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0002523 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án huyện V.
Xác nhận bị cáo Lê Văn H1 đã nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0002524 ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án huyện V.
Xác nhận bị cáo Phan Thị T đã nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0002535 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V.
thể hiện bị cáo tự nguyện nộp 10.000.000đ tiền phạt bổ sung và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm
Bản án số 13/2025/HS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (đánh bạc, gá bạc)
- Số bản án: 13/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc, Gá bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị T và đồng phạm - Gá bạc, Đánh bạc
