|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 18 tháng 02 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Phước và ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Quang Trực - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Đoàn Ngọc V, sinh ngày 28/12/1998 tại huyện T, tỉnh An Giang. Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật Giáo H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Thiện C, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/8/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
Anh Lê Chí H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:
Luật sư Nguyễn Thanh T1 – Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh A (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1967; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng:
Ông Đoàn Thiện C, sinh năm 1966 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 31/5/2024, anh Huỳnh Ngọc T2 đến nhà anh Chế Quốc V1 ở ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ chơi thì xảy ra mâu thuẫn đánh nhau bằng tay với Đoàn Ngọc V, nhưng không có thương tích được Lê Chí H can ngăn, Về bỏ về nhà ở ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, V nghe chị Phạm Thị Tư thông T3 Ngô Anh K và T2 đang điều khiển xe về xã V, huyện T thì Về vào nhà chuẩn bị 01 thanh kim loại dài khoảng 60cm, loại 2,5cm vuông, được cắt xéo một đầu sắt nhọn rồi lấy xe mô tô biển số 67B2-361.00 điều khiển đến trước nhà anh Ngô Văn N thuộc ấp V, xã V, huyện T đứng chờ xe của Thêm khoảng 30 phút. Về thấy anh H một mình điều khiển xe chạy đến, Về kêu H dừng xe nói chuyện thì cả hai xảy ra cự cãi, tay phải Về cầm thanh kim loại mang theo trước đó đánh nhiều cái vào bụng, hông, lưng và đầu của H, rồi V lên xe điều khiển bỏ đi đến khu vực Trường tiểu học “B” Định Thành thuộc ấp H, xã Đ, ném bỏ hung khí; Cơ quan điều tra tổ chức truy tìm, nhưng không tìm thấy. Riêng, H được cha ruột là Lê Văn D đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu đến ngày 04/6/2024 ra viện. Ngày 01/6/2024, D và H đến Công an xã V trình báo, đồng thời có đơn yêu cầu xử lý hình sự. Ngày 06/8/2024, Về bị khởi tố, điều tra.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 478/24/KLTTCT-TTPY ngày 15/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, ghi nhận thương tích của Lê Chí H:
Kết quả chính: Sẹo vùng trán đính lệch trái, đứng dọc, nằm trong chân tóc, kích thước (06 x 0.2) cm, là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ là 02%; Sẹo vùng đính thái dương trái, nằm xiên, kích thước (5.5 x 0.2) cm, là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ là 02%. Gây nứt sọ dạng đứt bản ngoài sọ vùng đính trái tương ứng với sẹo bên ngoài, tỷ lệ là 06%. Tỷ lệ là 08%; Sẹo hõm nách trái đường nách sau, kích thước (02 x 0.3) cm, là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ là 01%; Bầm máu mặt trước 1/3 trên cánh tay trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%; Sây sát da dạng thẳng mặt trước 1/3 giữa cánh tay trái để lại sẹo, kích thước (01 x 0.3) cm, là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ là 01%; Bầm máu mặt ngoài sau 1/3 trên đến 1/3 giữa cánh tay trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%; Sây sát da dạng thẳng mặt trước 1/3 giữa cánh tay trái để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước (03 x 0.2) cm. Tỷ lệ là 01%; Sẹo mặt sau khuỷu tay trái, kích thước (03 x 0.8) cm, là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ là 02%; Bầm máu vùng hông lưng trái hiện tại không để lại thương tích. Tỷ lệ là 00%. Tỷ lệ
phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 14% (mười bốn phần trăm).
- Kết luận khác: Tất cả các thương tích trên do vật có cạnh sắc gây nên.
Vật chứng và tài liệu đồ vật thu giữ:
01 xe mô tô biển số 67B2-361.00, màu trắng - đen - bạc, số máy 0898156, số khung 042136, nhãn hiệu Honda, loại Wave; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 111150, tên chủ xe Nguyễn Thị Mỹ H1.
Tại Bản cáo trạng số 116/CT-VKSTS ngày 02/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Đoàn Ngọc V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại là 120.000.000 đồng;
Bị hại trình bày: Bị cáo dùng vật cứng gây thương tích cho bị hại như nội dung vụ án đã nêu. Bị hại yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo theo quy định pháp luật, về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường: 120.000.000 đồng (gồm chi phí điều trị; mất thu nhập lao động và tổn thất tinh thần).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bạch T trình bày: Yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 67B2-361.00 và giấy đăng ký xe mô tô số 111150.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc V mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận thỏa thuận việc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 120.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Bạch T 01 xe mô tô biển số 67B2-361.00, màu trắng - đen - bạc, số máy 0898156, số khung 042136, nhãn hiệu Honda, loại Wave; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 111150.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại phát biểu quan điểm tranh luận:
Xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc V mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận thỏa thuận việc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 120.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
[1] Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Ngọc V:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các biên bản hoạt động tố tụng. Ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đầy đủ căn cứ xác định: Vì mâu thuẫn nhỏ nhặt bị cáo Đoàn Ngọc V đã dùng thanh sắt đánh gây thương tích cho bị hại Lê Chí H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14% và bị hại có đơn yêu cầu xử lý hình sự.
Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo về tội danh, Điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý nhất của xã hội được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật đều bị xử lý kịp thời và nghiêm minh.
Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức được việc nào đúng, việc nào sai, việc nào nên làm và việc nào không nên làm, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, nhưng với bản chất côn đồ, xem thường pháp luật, xem thường
sức khỏe người khác nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, dùng thanh sắt là hung khí nguy hiểm đánh bị hại hậu quả xảy ra làm bị hại bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải có mức hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Không.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại về việc bồi thường. Bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 120.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 67B2-361.00, màu trắng - đen - bạc, số máy 0898156, số khung 042136, nhãn hiệu Honda, loại Wave; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 111150 là tài sản của bà Nguyễn Thị Bạch T mua lại của bà Nguyễn Thị Mỹ H1 nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu nên cần trả lại cho bà Nguyễn Thị Bạch T.
[6] Bị cáo Đoàn Ngọc V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Ngọc V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc V 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 22/8/2024).
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 590 Bộ luật Dân sự công nhận sự thỏa thuận về việc bị cáo Đoàn Ngọc V bồi thường cho bị hại Lê Chí H số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Bạch T 01 (một) xe mô tô biển số 67B2-361.00, màu trắng - đen - bạc, số máy 0898156, số khung 042136, nhãn hiệu Honda, loại Wave; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 111150.
(Đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 02/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đoàn Ngọc V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.000.000 (sáu triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Trí Nguyên |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
