TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày 18-02-2025 “V/v ly hôn giữa anh Đạt – chị Uyên” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Túy; Ông Đặng Ngọc Tân.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2024/TLST–HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Huy Đ, sinh năm 1983.
- Nơi cư trú: Tổ C, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- - Bị đơn: Chị Lương Khánh U, sinh năm 1988.
- Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- (anh Đ, chị U có đơn xin xử án vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai, nguyên đơn là anh Nguyễn Huy Đ trình bày: Anh Đ và chị Lương Khánh U tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện Q vào ngày 30/8/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại gia đình anh Đ và lao động tự do, trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, ngoài ra chị U có biểu hiện quan hệ nam nữ bất chính. Từ năm 2018 chị U đã trở về gia đình bố mẹ đẻ tại xã A sinh sống và sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị xin được ly hôn chị U.
Về con chung: Anh Đ khai có 02 con chung là Nguyễn Kim N, sinh ngày 01/6/2015 và Nguyễn Phúc H, sinh ngày 16/4/2020. Cháu N do anh trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi vợ chồng sống ly thân, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu H sinh ra trong thời gian vợ chồng sống ly thân và hiện do chị U đang nuôi dưỡng, anh đề nghị Tòa án trưng cầu giám định ADN để xác định huyết thống cha con, nếu kết quả xác định là con chung thì anh đề nghị Tòa án giao cho chị U được trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật. Trường hợp xác định không phải là con chung thì anh đề nghị Tòa án xác định cháu H là con riêng của chị U theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Anh Đ khai vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không có nợ chung và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là chị Lương Khánh U:
Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập và tống đạt hợp lệ mọi văn bản tố tụng cần thiết cho chị U biết và đến Tòa án giải quyết vụ kiện. Chị U đã có bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt và đơn đề nghị không tiến hành hòa giải gửi Tòa án. Nội dung bản tự khai chị U trình bày về điều kiện, thời gian, địa điểm kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn như anh Đ trình bày là đúng, vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay. Nay anh Đ xin ly hôn chị, chị cũng nhất trí, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Đ được ly hôn. Về con chung: Chị U xác nhận cháu Nguyễn Kim N, sinh ngày 01/6/2015 hiện là con chung của vợ chồng, chị nhất trí để anh Đ được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N. Đối với cháu Nguyễn Phúc H, sinh ngày 16/4/2020 hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng là con riêng của chị, không phải là con chung vợ chồng vì vậy chị không đặt trách nhiệm nuôi dưỡng cháu H đối với anh Đ. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã xác minh:
- - Ông Lương Văn N1, sinh năm 1954, địa chỉ: Thôn T, xã A - là mẹ bố đẻ chị U đã cung cấp hoàn cảnh điều kiện, thời gian kết hôn, thời gian chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị U và anh Đ. Hiện tại chị U và anh Đ đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Quan điểm của N1 đề nghị Tòa án căn cứ vào thực trạng cuộc hôn nhân giữa anh Đ chị U và giải quyết cho anh Đ được ly hôn chị U vì hai bên đã sống ly thân và không còn thương yêu nhau nữa.
- - Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã trưng cầu giám định, Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 09/01/2025 của Hội đồng khoa học Công ty cổ phần D kết luận: anh Nguyễn Huy Đ và cháu Nguyễn Phúc H không có quan hệ huyết thống Cha-con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Hồ sơ vụ án từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đã lập và thu thập đầy đủ các tài liệu và chứng cứ, tuân thủ đúng trình tự luật định. Tại phiên tòa việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự pháp luật. Đối với các đương sự trong các giai đoạn tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đ được ly hôn chị U; Xử giao con chung Nguyễn Kim N, sinh ngày 01/6/2015 cho anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không yêu cầu chị U cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Nguyễn Phúc H, sinh ngày 16/4/2020 là con riêng của chị U, chị U có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu H trưởng thành; Về chia tài sản chung: anh Đ chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Đ chị U đều có đơn xin xử vắng mặt, do vậy Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Huy Đ và chị Lương Khánh U được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện Q vào ngày 30/8/2014 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh Đ và chị U cùng chung sống tại gia đình anh Đ tại thị trấn Q và lao động tự do. Theo như anh Đ trình bày và qua xác minh cho thấy trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Từ năm 2018 mâu thuẫn căng thẳng, chị chị U đã trở về gia đình bố mẹ đẻ sinh sống và sống ly thân từ đó cho đến nay, vợ chồng đoạn tuyệt tình cảm không hỏi han và không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh Đ làm đơn khởi kiện đề nghị xin được ly hôn. Còn đối với chị U quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ để chị U biết và đến Tòa án tham gia hòa giải, vợ chồng có cơ hội gặp gỡ trở về đoàn tụ, chị U đã có bản tự khai và đơn xin xử án vắng mặt gửi Tòa án. Nội dung bản tự khai chị U trình bày tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đ không còn, chị cũng nhất trí xin được ly hôn anh Đ. Điều đó chứng tỏ cuộc sống tình cảm vợ chồng giữa anh Đ chị U đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Đ được ly hôn chị U là có căn cứ.
[3] Về con chung: Anh Đ và chị U có 01 con chung là Nguyễn Kim N, sinh ngày 01/6/2015 hiện do anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Các đương sự đều thống nhất giao cháu N cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Qua lấy lời khai cháu N có nguyện vọng được ở với bố, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đượng sự về nuôi dưỡng con chung là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Đối với cháu Nguyễn Phúc H, sinh ngày 16/4/2020 hiện chị U đang trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiếu kết quả phân tích ADN ngày 09/01/2025 của Hội đồng khoa học Công ty cổ phần D kết luận: anh Đ và cháu H không có quan hệ huyết thống Cha-con. Vì vậy Hội đồng xét xử cần xác định cháu H là con riêng của chị U. Khi ly hôn chị U nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cháu H, không liên quan gì đến anh Đ. Hội đồng xét xử, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị U phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
[4] Về tài sản chung: Anh Đ chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy phần tài sản Tòa án không xét.
[5] Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Anh Đ chị U có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Huy Đ được ly hôn chị Lương Khánh U.
2/Về con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, anh Đ nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Kim N, sinh ngày 01/6/2015, anh Đ không yêu cầu chị U cấp dương nuôi con chung.
Chị U có quyền thăm nom con chung.
Xác định cháu Nguyễn Phúc H, sinh ngày 16/4/2020 là con riêng của chị U. Chị U có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu H trưởng thành.
3/Về tài sản chung: Anh Đ chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/Về án phí: Anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh Đ đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004957 ngày 02/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ thành tiền án phí.
5/Về quyền kháng cáo: Anh Đ và chị U có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN MINH ĐỨC |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa anh Nguyễn Huy Đạt và chị Lương Khánh Uyên.
