Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 18-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Thành

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Ngọc Túy - Hiệu trưởng trường Trung cấp Nông nghiệp tỉnh Thái Bình;
  2. Ông Đặng Ngọc Tân – Giảng viên Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Quỳnh Phụ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H, sinh ngày 20/3/2007, tại xã Q, huyện Q; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn H1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1985. Hiện đều sinh sống tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/9/2024, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Phạm Văn H1 (bố đẻ), sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị V (mẹ đẻ), sinh năm 1985, đều cư trú tại: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (có mặt ông H1, vắng mặt bà V)

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đào Quang N - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).

2

* Bị hại: Ông Hoàng Văn M, sinh năm: 1963; nơi cư trú: thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Đặng Thanh T, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

- Ông Hoàng Xuân T1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

- Anh Lê Tuấn A, sinh năm 1999, nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn H không có giấy phép lái xe mô tô. Tối ngày 31/5/2024, H không đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn xanh, dung tích 109,2 cm³, không đeo biển số, từ nhà theo đường ĐH74, hướng Ủy ban nhân dân (UBND) xã Q đi đường ĐT452, để tới xã Q, huyện Q, thăm chị gái. Khoảng 19 giờ 30 phút, xe Học điều khiển đến đoạn thuộc địa phận thôn Đ, xã Q, huyện Q. Đây là đoạn đường thẳng, không vạch kẻ đường, được rải đá láng nhựa đường, rộng 06 mét, có hai chiều đi, chiều UBND xã Q đi đường ĐT452 và ngược lại. Giáp mép đường hai bên là lề đường rộng 01 mét, tiếp đến khu vực dân cư, cánh đồng. Lề đường bên phải chiều đường ĐT452 đi UBND xã Q, phía trước khu vực đất và nhà ông Hoàng Xuân T1, rộng 1,5 mét, lát gạch hoa, cao hơn mặt đường 0,1 mét. Lúc này trời tối, không mưa, có đèn đường, ít người và phương tiện tham gia giao thông. Học không sử dụng rượu bia, chất kích thích, tay trái cầm điện thoại di động, điều khiển xe có đèn chiếu sáng, đi ở phần đường bên phải, với tốc độ khoảng 40km/h, cách mép đường 02 mét. Đang đi, điện thoại báo có cuộc gọi qua ứng dụng mesenger nên H điều khiển xe đi bằng một tay (tay phải), tay trái cầm điện thoại đưa lên nghe. Nhầm tưởng có người gọi H quay nhìn về phía sau nên xe mô tô đi sang phần đường bên trái (hướng đường ĐT452 đi UBND xã Q). Khi quay lại, H thấy ở phía trước, cách khoảng 03 mét, có một phương tiện sau biết là xe gắn máy, nhãn hiệu Cupindo, màu xanh, dung tích 49,5cm³, biển số 17AA-514.62, do ông Hoàng Văn M điều khiển (có đèn chiếu sáng) đi ngược chiều với tốc độ khoảng 35km/h, hướng đường ĐT452 đi UBND xã Q đến đã không xử lý được nên bánh trước, đầu chắn bùn trước, càng trước, cánh yếm, cần giậm số, giá để chân trước... bên trái xe mô tô va chạm với càng, giỏ chở hàng, cánh yếm, cụm đèn xi nhan, cần giận phanh bên trái xe gắn máy. Sau va chạm, xe gắn máy đổ phải, cách mép đường bên phải hướng đường ĐT452 đi UBND xã Q 1,55 mét, đầu xe hướng UBND xã Q; ông M ngã va chạm với mặt đường, nằm cách xe gắn máy khoảng 01 mét về phía đường ĐT452. Xe mô tô đổ trái trượt rê 3,6 mét vào phần đường bên phải chiều UBND xã Q đi đường ĐT452, đầu xe hướng UBND xã Q, H ngã bị xe mô tô đè lên người. Nghe có tiếng va chạm, ông Hoàng Xuân T1 và anh Lê Tuấn A nhà ở gần đó ra thấy ông M và H bị thương nằm trên mặt

3

đường đã cùng người dân dựng chiếc xe mô tô vào mép đường, điện báo cho Công an xã Q, đưa ông M và H đến Bệnh viện đa khoa huyện Q. Hậu quả: ông M bị tổn thương nhu mô não, tụ máu ngoài màng cứng, vỡ xương trán, vỡ xoang trán, gẫy xương chính mũi, gãy xương cung tiếp gò má bên phải, vỡ thành xoang hàm, gãy xương sườn 3 bên trái, gãy xương sườn 3 bên phải được chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị đến ngày 20/6/2024, tỷ lệ tổn thương cơ thể 66%; Học bị chấn thương sọ não, tụ máu dưới màng cứng hố thái dương phải, chảy máu liềm đại não, lều tiểu não, vỡ xương thái dương phải, cánh lớn xương bướm phải, tụ máu mi mắt phải, chấn thương ngực kín, gẫy 1/3 giữa xương đòn trái, gẫy xương sườn 1 bên trái, đụng dập nhu mô đỉnh phổi trái điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T đến ngày 11/6/2024, do từ chối giám định nên không xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể; xe mô tô thiệt hại trị giá 2.053.333 đồng, xe gắn máy thiệt hại trị giá 483.333 đồng.

Cáo trạng số 07/CT-VKSQP, ngày 25 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã truy tố bị cáo: Phạm Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và đúng như nội dung mô tả trong bản Cáo trạng.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo ông Phạm Văn H1 khai không biết việc bị cáo mua xe mô tô sau điều khiển gây tai nạn cho ông M. Bị cáo H đã tác động gia đình để thỏa thuận bồi thường cho ông M số tiền 40.000.000 đồng, ông M không yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự. Ông H1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã bồi thường cho bị hại.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, 590, 601 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự giữa gia đình bị cáo Phạm Văn H và ông Hoàng Văn M đã bồi thường thiệt hại về tài sản và sức khỏe cho bị hại ông Hoàng Văn M số tiền 40.000.000 đồng; ông M đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự. Người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Phạm Văn H1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã bồi thường cho bị hại. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí theo quy định.

4

Trong phần tranh luận, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Việt kiểm sát. Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các điểm điều khoản luật áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, hiện vẫn đang là học sinh, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại... để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để tiếp tục học tập và thể hiện chính sách khoan hồng đối với người dưới 18 tuổi.

Bị cáo Phạm Văn H nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị cáo tại phiên tòa. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các chứng cứ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường (kèm bản ảnh) do Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện Q lập hồi 20 giờ 25 phút ngày 31/5/2024 và biên bản xác định hệ thống báo hiệu đường bộ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 14 giờ ngày 20/8/2024(bút lục số 10 - 13; 239); Biên bản khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông (kèm bản ảnh) do Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện Q lập hồi 08 giờ và 09 giờ ngày 06/6/2024, tại Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 15 - 18; 240); Giấy chứng nhận thương tích số 15/CN, ngày 12/6/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T (bút lục số 71 - 72); Bệnh án ngoại khoa điều trị của ông Hoàng Văn M tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T (bút lục số 73 - 97); Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 459/KLTTCT-TTPY, ngày 22/8/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T“1. Các kết quả chính: Vùng trán phải có vết sẹo nhỏ, rãnh mũi má bên phải có vết sẹo nhỏ, môi trên có vết sẹo nhỏ, ngách tiền đình hàm trên bên phải có vết sẹo nhỏ, vùng ngực có 02 vết sẹo nhỏ; Mu bàn tay có vết sẹo nhỏ, mặt sau đốt 1 ngón III bàn tay trái có vết sẹo nhỏ, mặt trước ngoài gối trái có vết sẹo trung bình; Tổn thương nhu mô não (Ô

5

giảm tỷ trọng nhu mô não vùng trán bên phải), tụ máu ngoài màng cứng không còn trên chân đoán hình ảnh, vỡ xương trán, vỡ xoang trán, gãy xương chính mũi, gãy xương cung tiếp gò má bên phải, vỡ thành xoang hàm, bờ ngoài ổ mắt hai bên, gãy xương sườn 3 hai bên trái, phải, thị lực MT 3/10, M1 (không có tổn thương thực thể), không có căn cứ cho điểm tỷ lệ theo thông tư. 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Hoàng Văn M tại thời điểm giám định là 66%” (bút lục số 107 - 109); Giấy chứng nhận thương tích số 50/CN, ngày 13/6/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T; Bệnh án ngoại khoa điều trị của Phạm Văn H tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T (bút lục số 114 - 125); Kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu và sinh hóa máu của Phạm Văn H lập ngày 31/5/2024 tại Bệnh viện Đ, tỉnh Thái Bình: “Âm tính với các chất gây nghiện, định lượng Ethanol (cồn) trong máu 0,5 mmol/l (trị số bình thường <10,9mmol/l) (bút lục số 128 - 129); Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu của ông Hoàng Văn M lập ngày 31/5/2024 tại Bệnh viện Đ: kết quả định lượng Ethanol (cồn) trong máu 0,8 mmol/l (trị số bình thường <10,9mmol/l) (bút lục số 127); Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS, ngày 15/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Q, tỉnh Thái Bình “Các bộ phận hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu sơn xanh, không đeo biển số, trị giá 2.053.333 đồng. Các bộ phận hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu CUPINDO, màu xanh, biển số 17AA-514.62, trị giá 483.333 đồng” (bút lúc số 142 - 143); Biên bản xác minh, giao nhận, niêm phong dữ liệu điện tử do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 12/8/2024 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 150 - 152). Kết luận giám định số 1261/KL-KTHS, ngày 09/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (bút lục số 156 - 161); Biên bản ghi khai của bị hại Hoàng Văn M (bút lục số 214 - 219) và những người làm chứng Đặng Thanh T (bút lục số 222), Lê Tuấn A (bút lục số 223 - 226), Hoàng Xuân T1 (bút lục số 227 - 230); Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[2.2] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 31/5/2024, tại đường Đ, thuộc thôn Đ, xã Q, huyện Q, Phạm Văn H chưa đủ 18 tuổi, không có giấy phép lái xe mô tô nhưng vẫn điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, dung tích 109,2 cm³, màu sơn xanh, không đeo biển số tham gia giao thông hướng UBND xã Q đi đường ĐT452, do sử dụng điện thoại di động khi điều khiển xe và không chú ý quan sát đường nên đã đi sang phần đường bên trái (hướng đường ĐT452 đi UBND xã Q), bánh trước, đầu chắn bùn trước, càng trước, cánh yếm, cần giậm số, giá để chân trước... bên trái xe mô tô va chạm với càng, giỏ chở hàng, cánh yếm, cụm đèn xi nhan, cần giận phanh bên trái... xe gắn máy, nhãn hiệu Cupindo, màu xanh, dung tích 49,5cm³, biển số 17AA-514.62 do ông Hoàng Văn M điều khiển đi ngược chiều đến. Hậu quả: ông M bị tổn thương nhu mô não, tụ máu ngoài màng cứng, vỡ xương trán, vỡ xoang trán, gẫy xương chính mũi, gãy xương cung tiếp gò má bên phải, vỡ thành xoang hàm, gãy xương sườn

6

3 bên trái, gãy xương sườn 3 bên phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể 66%; Học bị chấn thương sọ não, tụ máu dưới màng cứng hố thái dương phải, chảy máu liềm đại não, lều tiểu não, vỡ xương thái dương phải, cánh lớn xương bướm phải, tụ máu mi mắt phải, chấn thương ngực kín, gẫy 1/3 giữa xương đòn trái, gẫy xương sườn 1 bên trái, đụng dập nhu mô đỉnh phổi trái do từ chối giám định nên không xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể; xe mô tô thiệt hại trị giá 2.053.333 đồng, xe gắn máy thiệt hại trị giá 483.333 đồng.

Hành vi của Phạm Văn H vi phạm khoản 9, khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9; điểm c khoản 3 Điều 30; khoản 1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ, gây thương tích đối với một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 66%.

Điều 8: Các hành vi bị nghiêm cấm

“9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

... 23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.”

Điều 9. Quy tắc chung

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Điều 30. Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy

“3. Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy không được thực hiện các hành vi sau đây:

... c) Sử dụng ô, điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính”.

Điều 58. Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông

“1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp”.

Do đó đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

... 5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

7

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông. bản thân bị cáo H không có giấy phép lái xe theo quy định, nhận thức rõ việc điều khiển xe mô tô tham gia giao thông là đang sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nhưng bị cáo vẫn sử dụng xe mô tô, không chú ý quan sát, vừa điều khiển xe mô tô vừa nghe điện thoại nên đã không xử lý được tình huống dẫn đến tai nạn giao thông đối với ông M. Hậu quả ông M tổn thương cơ thể 66%. Học bị chấn thương sọ não, tụ máu dưới màng cứng hố thái dương phải, chảy máu liềm đại não, lều tiểu não, vỡ xương thái dương phải, cánh lớn xương bướm phải, tụ máu mi mắt phải, chấn thương ngực kín, gẫy xương sườn 1 trái, đụng dập nhu mô đỉnh phổi, gẫy xương đòn trái; xe mô tô thiệt hại trị giá 2.053.333 đồng, xe gắn máy thiệt hại trị giá 483.333 đồng. Do đó việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng và đấu tranh, ngăn chặn đối với tội phạm về trật tự an toàn giao thông nói chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo đã tác động bố đẻ là Phạm Văn H1 thỏa thuận, bồi thường thiệt hại cho bị hại, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án, bị hại Hoàng Văn M có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội khi đủ 16 đến dưới 18 tuổi, hiện đang là học sinh, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có nơi cư trú ổn định, bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự nên xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà có thể áp dụng quy định tại khoản 1, 2 Điều 65 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và cho bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật để phấn đấu cải tạo, như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là phù hợp cũng đủ để đạt được mục đích của hình phạt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự.

8

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với xe chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, dung tích 109,2 cm³, màu sơn xanh, có biển số 17B5-715.48, bị cáo Phạm Văn H mua vào cuối năm 2023 của anh Đặng Thanh T, sinh năm 1996, cư trú: thôn M, xã Q, huyện Q, bằng nguồn tiền của bản thân. Còn xe gắn máy, nhãn hiệu Cupindo, màu xanh, dung tích 49,5cm³, biển số 17AA-514.62 của ông Hoàng Văn M. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả các phương tiện và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy cho bị cáo và bị hại quản lý.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Phạm Văn H đã tác động để bố đẻ là Phạm Văn H1 thỏa thuận, bồi thường thiệt hại về tài sản và sức khỏe cho bị hại ông Hoàng Văn M số tiền 40.000.000 đồng. Bị hại đã nhận số tiền trên không còn yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự. Người đại diện hợp pháp của bị cáo không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã bồi thường cho bị hại nên cần ghi nhận là phù hợp với quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 589, 590, 601 Bộ luật Dân sự.

[9] Về các xử lý khác: Bị hại Hoàng Văn M điều khiển xe gắn máy, nhãn hiệu Cupindo, màu xanh, dung tích 49,5cm³, biển số 17AA-514.62, đi đúng phần đường, chấp hành đúng quy định về tốc độ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là đúng.

Bị cáo Phạm Văn H điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm và không gắn biển số của đã bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính là đúng.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 50; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/02/2025).

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều Điều 584, 585, 589, 590, 601 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự giữa bố đẻ bị cáo với bị hại đã bồi thường thiệt hại về tài sản và sức khỏe cho bị hại Hoàng Văn M số tiền 40.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã bồi thường cho bị hại. Việc bồi thường dân sự đã thực hiện xong.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn H phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/02/2025). Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết, tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Thái Bình;

- VKSND tỉnh Thái Bình;

- Sở Tư pháp Thái Bình;

- Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo;

- Bị hại;

- VKSND huyện Quỳnh Phụ;

- Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Quỳnh Phụ;

- Chi cục Thi hành án dân sự Quỳnh Phụ;

- Ủy ban nhân dân xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ;

- Lưu: HSVA, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tiến Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H bị xử 02 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger