Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 02 - 2025.

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Sơn Thị Vành Đa;

Ông Lý Thanh Chiều.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ K; Cư trú tại: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trì Minh T; Cư trú tại: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng 12 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Trì Minh T có tổ chức lễ cưới vào năm 2002 và đăng ký kết hôn vào ngày 30 tháng 12 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng thời gian về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm vợ chồng không thể hàn gắn được. Chị K và anh T không còn chung sống với nhau từ năm 2015 cho đến nay.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 02 (Hai) người con chung tên Trì Thị Mỹ T1, sinh ngày 31/12/2003 và Trì Mỹ D, sinh ngày 28/01/2012. Hiện tại các cháu đang sống chung với chị K.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Chị Nguyễn Thị Mỹ K yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ K yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Trì Minh T.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ K yêu cầu Toà án giải quyết giao con chung tên Trì Mỹ D, sinh ngày 28/01/2012 cho chị K tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu D đủ 18 (Mười tám) tuổi, chị K không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Trì Thị Mỹ T1, sinh ngày 31/12/2003 đã trưởng thành và có cuộc sống riêng nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trì Minh T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản không tiến hành hòa giải được và Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Chị K và anh T chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, anh chị không còn chung sống với nhau từ năm 2015 cho đến nay; Về con chung tên Trì Mỹ D, sinh ngày 28/01/2012 chị K yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu D đủ 18 (Mười tám) tuổi, chị K không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Trì Thị Mỹ T1, sinh ngày 31/12/2003 đã trưởng thành và có cuộc sống riêng nên không yêu cầu Toà án giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qủa tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Tòa án triệu tập hợp lệ nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ K để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ K không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ K.

- Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn anh Trì Minh T đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Trì Minh T vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trì Minh T.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cư trú tại ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Trì Minh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 177 ngày 30 tháng 12 năm 2002. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình thì chị K có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.

[4] Xét lý do xin ly hôn của chị K, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi kết hôn chị K và anh T chung sống với nhau có 02 (Hai) người con chung. Tuy nhiên, chị K và anh T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từ đó làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mỗi người sống một nơi, không quan tâm, chăm sóc cho nhau, anh chị không còn chung sống với nhau từ năm 2015 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập chị K và anh T để hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh T không có mặt để Tòa án hòa giải đoàn tụ, anh T cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị K, cho thấy anh T không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị K và anh T cũng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K.

[5] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị K và anh T có 02 (Hai) người con chung tên Trì Thị Mỹ T1, sinh ngày 31/12/2003 và Trì Mỹ D, sinh ngày 28/01/2012, hiện tại 02 cháu đang sống chung với chị K. Xét thấy, con chung Trì Thị Mỹ T1, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2003 đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, chị K không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Đối với con chung Trì Mỹ D, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2012, từ khi sinh ra sống chung với chị K, chị K chăm sóc, nuôi dưỡng, nên về mặt tình cảm thì cháu D gắn bó và yêu mến chị K nhiều hơn anh T, hơn nữa cháu D là nữ giới nên cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ. Tòa án có ghi ý kiến cháu D có nguyện vọng sống chung với chị K, điều kiện chăm sóc của chị K thuận lợi hơn anh T, nhằm ổn định cuộc sống cho cháu D phát triển về mặt vật chất cũng như tinh thần. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử Quyết định tiếp tục giao con chung Trì Mỹ Duyên, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2012 cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 (Mười tám) tuổi.

[6] Về nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở...”, anh T không trực tiếp nuôi con nên anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dung việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Lẽ ra, anh T là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị K có khả năng nuôi con không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về tài sản chung và nợ chung: Chị K xác định là không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[9] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị K là người có đơn xin ly hôn, chị K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; khoản 2, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mỹ K và anh Trì Minh T.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Trì Mỹ D, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2012, cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 (Mười tám) tuổi. Con chung tên Trì Thị Mỹ T1, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2003 đã trưởng thành, có khả năng lao động không yêu cầu nên không xem xét.

- Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị K không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, chị K không yêu cầu nên không xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007540 ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị K đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;

- Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;

- Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng;

- UBND xã Hưng Phú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng,

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Thị Kiều Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn, giao con chung cho nguyên đơn tiếp tục chăm sóc đến khi đủ 18 tuổi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger