Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-02-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lục Kim Thanh.
  2. Ông Lương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 801/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 282/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QÐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1979; nơi đăng ký thường trú: Tổ E, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1979; nơi đăng ký thường trú: Tổ E, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/9/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N trình bày:

Bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Thanh V tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương (GCNKH số 115 ngày 04/9/2007). Quá trình chung sống, giữa bà N và ông V đã phát sinh mâu thuẫn do tính cách không phù hợp, bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục. Bà N nhận thấy những mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Thanh V có 03 con chung tên Nguyễn Hoàng N1, sinh ngày 25/9/2001, Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 25/9/2010, Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 15/12/2011. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng T và Nguyễn Hoàng T1, riêng cháu Nguyễn Hoàng N1 đã thành niên nên không đề nghị giải quyết.

Về cấp dưỡng: không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngoài ra, quá trình tham gia tố tụng, bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh V: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không rõ lý do, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Vụ án thụ lý đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đầy đủ các thủ tục quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vắng mặt là phù hợp. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị khắc phục vi phạm về tố tụng.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Ngọc N khởi kiện ông Nguyễn Thanh V yêu cầu ly hôn, tranh chấp về việc nuôi con chung nên quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn ông Nguyễn Thanh V có nơi cư trú tại phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Thanh V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Thanh V chung sống có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của bà N và ông V là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có sự yêu thương tôn trọng lẫn nhau. Ông V được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến làm việc thể hiện việc không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với bà N. Nhận thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm chăm sóc lẫn nhau, việc bà N và ông V là vợ chồng nhưng không còn chung sống, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn cùng chia sẻ, thực hiện các công việc chung trong gia đình như vậy đã vi phạm nghiêm trọng đến quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình; thuộc trường hợp hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Ngọc N là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Thanh V có 03 con chung tên Nguyễn Hoàng N1, sinh ngày 25/9/2001, Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 25/9/2010, Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 15/12/2011. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Hoàng T và Nguyễn Hoàng T1, không yêu cầu ông V cấp dưỡng. Riêng cháu Nguyễn Hoàng N1 đã thành niên nên không có yêu cầu. Nhận thấy hiện nay các cháu T, T1 đều đang sống chung với bà N và đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Do đó, yêu cầu của bà N là có căn cứ, phù hợp quy định khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: do nguyên đơn không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

[4] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 84, Điều 107, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh V về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

  • Về hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc N được ly hôn với ông Nguyễn Thanh V.
  • Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 25/9/2010, Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 15/12/2011 cho bà Nguyễn Ngọc N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: do nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì quyền lợi hợp pháp của con. Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc N không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000978 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP. Bến Cát;
  • - Chi cục THADS Tp. Bến Cát;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Hòa Lợi, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Minh Đạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N ly hôn V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger