TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số:11/2025/HSST Ngày: 13/02/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Hưng
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thành Công, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đai Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 2 năm 2025, đối với bị cáo:
Lương Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04 tháng 02 năm 1983; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và C ở: Xóm A, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Lương Văn K, sinh năm 1953 và con bà: Triệu Thị T1, sinh năm 1956 (Đã chết); Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ: Hà Thị T2, sinh năm 1984, có 01 con chung sinh năm 2011; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm A, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với công an xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực xóm A, xã C, huyện Đ thì phát hiện một nam thanh niên đang đi bộ trên đường, có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì nam thanh niên chấp hành và khai nhận là Lương Văn T, đồng thời T tự nguyện lấy từ túi áo bên trái đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy màu tím, bên trong có chứa chất bột màu trắng (T khai là ma túy heroine của T mua về sử dụng), niêm phong vào phong bì kí hiệu T3 Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc, vật chứng và đối tượng đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở, đồ vật đối với Lương Văn T, kết quả không thu giữ được gì.
Hồi 19 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K1 - Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của T có khối lượng 0,106 gam, niêm phong vào phong bì kí hiệu T1 gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 1097/KL-KTHS, ngày 16/10/2024 của Phòng K1, công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong niêm phong kí hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổi sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,106 gam.
Tại cơ quan điều tra Lương Văn T khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ 30 phút, Ngày 08/10/2024, T đi nhờ xe của người không quen biết đến khu vực ngã ba B, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túý sử dụng, tại đây T gặp và mua ma túy của một nam thanh niên không quen biết được 01 gói Heroine gói bằng giấy màu tím với giá là 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào túi áo bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Khi T đi về tới khu vực xóm A, xã C, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ và công an xã C yêu cầu kiểm tra, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 02 phong bì kí hiệu T1, T2 chứa đối tượng còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSĐT, ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Phần luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 12/CT-VKSĐT, ngày 15/01/2025 đối với bị cáo T, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn T mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu T1,T2 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lương Văn T tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/10/2024 tại khu vực xóm A, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Lương Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,106 gam chất ma túy loại Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo T khai là mua của một người đàn ông không quen biết tại tại khu vực ngã ba bờ đậu, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên với số tiền là 200.000đ.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,106 gam chất ma túy loại Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của Lương Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 12/CT-VKSĐT, ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:.
c) Heroin.....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bố bị cáo là ông Lương Văn K được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại Điều 52 BLHS.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần có mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Mức án mà đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đề nghị áp dụng đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Nguồn gốc số ma túy loại Heroin, Lương Văn T khai mua một người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã ba bờ đậu, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người đàn ông trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
[7]. Vật chứng vụ án:
Các bì niêm phong ký hiệu T1,T2 bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu ban đầu là vật cấm lưu thông và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 02 bì niêm phong ký hiệu T1,T2 còn nguyên tình trạng niêm phong (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/2/2025 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ).
4. Án phí:
Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lương Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Duyên |
Bản án số 11/2025/HSST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 20 tháng
