Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 13/2025/HS-PT

Ngày: 13/02/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tân, bà Vũ Thị Yển.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 169/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị N cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

* Bị cáo kháng cáo:

  1. Trần Thị N, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Trần Thị L; có chồng là Hứa Văn T1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
  2. Nguyễn Thị D, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Vũ Thị G; có chồng là Vũ Văn M và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
  3. Lê Thị T2, sinh năm 1997; nơi ĐKHKTT: Khu A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương; nơi ở: Số F phố T, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Trần Thị Đ1; có chồng là Trần Minh H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, vắng mặt.
  4. Lưu Văn H1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Danh H2 và bà Vũ Thị X; có vợ là Lê Thị T3 và 03; tiền án, tiền sự: Không; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

* Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn N1 kháng cáo quá hạn không được chấp nhận và 03 bị cáo khác là Trần Minh H, Phùng Thị D2 và Nguyễn Thị G1 không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2021, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị G1, Lưu Văn H1, Lê Thị T2 và Phùng Thị D2 đều là công nhân của Công ty TNHH S (Công ty S) có địa chỉ tại Khu công nghiệp L thuộc thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương nên quen biết nhau. Cuối năm 2021, N1 và D nghỉ việc. Khoảng tháng 3/2022, N1 trao đổi, đặt mua giấy khám sức khỏe giả của Trần Thị N (là dì ruột của N1) để bán kiếm lời, N đồng ý. Sau đó, N sử dụng điện thoại di động đăng nhập vào ứng dụng Mesenger đặt mua 10 tờ giấy khám sức khỏe giả với giá 50.000 đồng/tờ của một người không rõ lai lịch có tài khoản Facebook “Minh V”. Như thoả thuận với người bán gửi giấy khám sức khỏe giả về địa chỉ nhà Như ở thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương bằng hình thức chuyển phát nhanh qua đường bưu điện, Như thanh toán tiền trực tiếp cho nhân viên giao hàng, Như không yêu cầu cụ thể giấy khám sức khỏe giả của bệnh viện nào. Khi nhận được giấy khám sức khỏe giả, Như kiểm tra thấy 10 tờ đều được in trên khổ giấy A3 đã có sẵn chữ ký, dấu chức danh của các bác sĩ và dấu xác nhận của Bệnh viện B và Bệnh viện G2, các phần thông tin về người khám và phần dán ảnh của người khám đều để trống. Sau đó, Như bán lại 10 tờ giấy khám sức khỏe giả này cho N1 với giá 60.000 đồng/tờ, được 600.000 đồng. Với hình thức mua và thanh toán tiền như trên, nhưng các lần tiếp theo, Như đặt mua của người có tài khoản Facebook “Minh Văn” các tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện đa khoa tỉnh H, cụ thể: Khoảng tháng 5/2022, Như mua 30 tờ giấy khám sức khỏe giả với giá 40.000 đồng/tờ, Như bán lại cho N1 với giá 50.000 đồng/tờ, được 1.500.000 đồng. Khoảng đầu tháng 8/2022, Như mua 50 tờ giấy khám sức khỏe giả với giá 30.000 đồng/tờ, Như bán lại cho N1 với giá 40.000 đồng/tờ, được 2.000.000 đồng. Tiếp đến, ngày 03/10/2022, Như mua 90 tờ giấy khám sức khỏe giả với giá 30.000 đồng/tờ (tuy nhiên khi kiểm tra, Như thấy ngoài các tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện đa khoa tỉnh H còn có 03 giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B), Như bán lại cho N1 với giá 40.000 đồng/tờ, N1 thanh toán trả trước cho Như 600.000 đồng, nợ lại 3.000.000 đồng. Các lần mua bán nêu trên giữa N và N1 đều thực hiện tại chỗ ở của Như.

Đối với số tờ giấy khám sức khỏe giả mua của N, N1 bán lại cho H1 03 lần, mỗi lần 10 tờ với giá 50.000 đồng/tờ, được tổng số tiền 1.500.000 đồng và bán lại cho D 06 lần, trong đó 05 lần đầu, cụ thể: Lần thứ nhất, Núi bán cho D 02 tờ với giá 80.000 đồng/tờ; các lần thứ 2, 3, 4 bán cho D mỗi lần 10 tờ với giá 60.000 đồng/tờ; lần thứ 5 bán cho D 12 tờ với giá 60.000 đồng/tờ, được tổng số tiền 2.680.000 đồng.

Sau khi mua được giấy khám sức khỏe giả của N1, H1 đã bán 25 tờ với giá 100.000 đồng/tờ, được tổng số tiền 2.500.000 đồng, trong đó, H1 bán 01 tờ cho anh Vừ Mạnh H3; bán 02 tờ cho ông Cao Văn H4; bán 02 tờ cho chị Đặng Dương A và bán 20 tờ cho các công nhân không rõ lai lịch mới vào làm việc tại Công ty S.

Đối với số tở giấy khám sức khỏe giả mua của N1, 02 tờ đầu D nhờ Nguyễn Thị G1 bán hộ cho 02 người không rõ lai lịch với giá 90.000 đồng/tờ, được số tiền 180.000 đồng, D cho G1 20.000 đồng tiền công. Tiếp theo, D bán cho Lê Thị T2 05 lần, trong đó 04 lần đầu, cụ thể: Lần thứ nhất, D bán cho T2 10 tờ với giá 90.000 đồng/tờ được số tiền 900.000 đồng; lần thứ 2, D bán cho T2 10 tờ với giá 70.000 đồng/tờ và các lần thứ 3, thứ 4, D bán cho T2 mỗi lần 10 tờ với giá 70.000 đồng/tờ (T2 đều chưa thanh toán trả tiền cho D). D nhờ D2 chuyển hộ 02 tờ D3 bán cho chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1980, trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện C với giá 110.000 đồng/01 tờ, D2 thu 220.000 đồng rồi đưa cho bị cáo Nguyễn Thị D. Ngoài ra, ba lần đầu D bán giấy khám sức khỏe giả cho T2, khi mua của N1, D đều bảo N1 đem đến để ở phòng bảo vệ của Công ty S, sau đó D nhờ D2 ra phòng bảo vệ cầm hộ đến trước thời điểm T2 đến lấy thì D2 lại đem ra phòng bảo vệ để ở đó để T2 đến cầm về. Lần thứ 4, D bán giấy khám sức khỏe giả cho T2, khi bán cho D, N1 nhờ H1 đem đến Công ty S đưa cho D2, sau đó D2 đem ra để ở phòng bảo vệ để T2 đến cầm về. Khi nhờ D2 cầm và bán giấy khám sức khỏe hộ, D hứa sẽ cho D2 tiền công.

Sau khi mua được giấy khám sức khỏe giả của D, 10 tờ đầu T2 bán cho các công nhân không rõ lai lịch mới vào làm ở Công ty S với giá 90.000 đồng/tờ đến 100.000 đồng/tờ. Tiếp theo, T2 bán 03 tờ cho 03 công nhân không rõ lai lịch mới vào làm ở Công ty S với giá 120.000 đồng/tờ. T2 nhờ Trần Minh H (chồng của T2) là nhân viên giao hàng của Công ty H5, địa chỉ: Phường C, thành phố H đi bán 03 tờ giấy khám sức khỏe giả cho 03 người không rõ lai lịch với giá 120.000 đồng/tờ, Hoàng thu được 60.000 đồng tiền công giao hàng.

Ngày 03/10/2022, T2 thỏa thuận bán 90 tờ giấy khám sức khỏe giả cho 01 người không rõ lai lịch với giá 80.000 đồng/tờ. Sau đó, T2 thỏa thuận mua của D 90 tờ giấy khám sức khỏe giả với giá 70.000 đồng/tờ, D thỏa thuận mua của Núi 90 tờ giấy khám sức khỏe giả với giá 60.000 đồng/tờ, D thanh toán trước cho N1 1.000.000 đồng, còn nợ lại 4.400.000 đồng. Do đó, sáng ngày 04/10/2022, N1 nhờ H1 đem 50 tờ giấy khám sức khỏe giả thỏa thuận bán cho D nêu trên đến Công ty S đưa cho D2 vì D nhờ D2 nhận hộ, sau đó D2 đem ra gửi ở phòng bảo vệ để H đến lấy đem đi bán hộ T2 cho một người không rõ lai lịch nêu trên hẹn gặp ở khu vực gần Công an tỉnh H. Trên đường đi giao giấy khám sức khỏe giả thì H bị lực lượng Công an phát hiện, H tự nguyện giao nộp 50 tờ giấy khám sức khỏe giả nêu trên và đem giao nộp 24 tờ giấy khám sức khỏe giả T2 mua của D trước đó nhưng chưa bán hết để tại phòng vợ chồng H đang thuê trọ ở thành phố H (trong đó có 73 tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện đa khoa tỉnh H và 01 tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B đều in trên khổ giấy A3). Buổi chiều cùng ngày, N1 tiếp tục nhờ H1 đem 40 tờ giấy khám sức khỏe giả còn lại gửi cho D, D nhờ D2 nhận hộ từ H1, sau đó D2 để ở phòng bảo vệ để H đến lấy nhưng tại thời điểm đó hành vi phạm tội của H đã bị phát hiện. Hồi 17 giờ 45 phút cùng ngày, Công an tiến hành làm việc với D2 và quản lý 40 tờ giấy khám sức khỏe mà trước đó D2 để ở phòng bảo vệ (trong đó có 38 tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện đa khoa tỉnh H và 02 tờ giấy khám sức khỏe giả của Bệnh viện B đều in trên khổ giấy A3). Ngày 21/10/2022, Lưu Văn H1 tự nguyện giao nộp 05 tờ giấy khám sức khoẻ giả của Bệnh viện đa khoa tỉnh H đều in trên khổ giấy A3.

Các lần N1, H1 và D2 để giấy khám sức khỏe ở phòng bảo vệ đều cho vào trong túi bìa đựng hồ sơ và không nói cho bảo vệ biết. Khi G1 và D2 bán giấy khám sức khỏe hộ D; H bán giấy khám sức khỏe hộ T2; Hoành, H, D2 giao và cầm giấy khám sức khỏe hộ N1, D và T2 thì G1, D2, H1 và H đều nhận thức được đó là giấy khám sức khỏe giả.

Ngày 23/02/2022 và ngày 04/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 119 tờ giấy khám sức khỏe đã thu giữ nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 24/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Hình dấu tròn có nội dụng “Bệnh viện đa khoa tỉnh H” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A11) với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một con dấu đóng ra. Hình dấu tròn có nội dung “Bệnh viện B” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A12 đến A14) với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) không phải do cùng một con dấu đóng ra. Chữ ký đứng tên TS BSCKII: Nguyễn Hữu T4 trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A9 đến A) với chữ ký của ông Nguyễn Hữu T4 trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M3 đến M6) không phải do cùng một người ký ra.

Tại Bản kết luận giám định số 63/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Hình dấu tròn có nội dung “Bệnh viện Đa khoa tỉnh” trên các mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A5; A15 đến A22) với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M8) không phải do cùng một con dấu đóng ra. Hình dấu tròn có nội dung “Bệnh viện Đa khoa tỉnh H” trên các mẫu cần giám định (ký hiệu từ A6 đến A14; A23 đến A105) với hình dấu tròn có nội dung “Bệnh viện Đa khoa tỉnh” trên mẫu so sánh (ký hiệu từ từ M1 đến M8) không phải do cùng một con dấu đóng ra. Chữ ký đứng tên TS-BSCKII: Nguyễn Hữu T4 trên các mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A) với chữ ký của ông Nguyễn Hữu T4 trên mẫu so sánh (ký hiệu M2-M8) không phải do cùng một người ký ra.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HS-ST ngày 30/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo N, T2, H1; căn cứ b khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D. Tuyên bố các bị cáo N, D, T2, H1 phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo N 04 năm tù; xử phạt các bị cáo D, T2, H1 mỗi bị cáo 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù của các bị cáo đều tính từ ngày thi hành án. Ngoài ra, bản án còn quyết định tội danh, hình phạt chính, hình phạt bổ sung đối với các bị cáo khác; biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04/10/2024, bị cáo D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Ngày 10/10/2024, các bị cáo T2 và H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Ngày 11/10/2024, bị cáo N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại cấp phúc thẩm các bị cáo N, D, T2, H1 giao nộp cho Tòa án Biên lai thu tiền thể hiện các bị cáo đã nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền phạt, tiền truy thu và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm. Bị cáo H1 giao nộp tài liệu thể hiện bị cáo nộp tiền ủng hộ khắc phục hậu quả bão số 3 và ủng hộ Quỹ vì người nghèo xã T, huyện K năm 2024; tài liệu thể hiện bố đẻ bị cáo là ông Lưu Danh H2 bị thương khi trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1984 (thương tích loại A). Bị cáo T2 giao nộp tài liệu thể hiện bị cáo nộp tiền ủng hộ Quỹ vì người nghèo phường T, thành phố H; ủng hộ quỹ vì người nghèo và ủng hộ khắc phục bão số 3 xã T, huyện K.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo T2 giao nộp cho Hội đồng xét xử đơn xin rút toàn bộ kháng cáo đề ngày 13/02/2025. Các bị cáo N, D, H1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như được nêu trong bản án sơ thẩm, nhất trí với tội danh như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với mình và giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T2. Xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo N, D, H1 về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với với các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho các bị cáo, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt, cụ thể: Xử phạt bị cáo N từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xử phạt các bị cáo D và H1 mỗi bị cáo 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp lệ. Xét việc bị cáo T2 rút toàn bộ kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T2.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2022 đến ngày 04/10/2022, tại thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, Trần Thị N 04 lần đặt mua của một người không rõ lai lịch tổng số 180 tờ giấy khám sức khỏe giả với tổng số tiền 5.900.000 đồng. Sau đó, N bán lại cho N1 04 lần tổng số 180 tờ với tổng số tiền 7.700.000 đồng. Sau khi mua được các giấy khám sức khỏe giả của Như, N1 bán lại cho Nguyễn Thị D 06 lần tổng số 134 tờ với tổng số tiền 8.080.000 đồng và bán lại cho Lưu Văn H1 03 lần tổng số 30 tờ với tổng số tiền 1.500.000 đồng. Sau khi mua giấy khám sức khỏe giả của N1, D nhờ Nguyễn Thị G1 bán hộ 02 tờ cho 02 người được 180.000 đồng; nhờ Phùng Thị D2 chuyển hộ 02 tờ bán cho 01 người được 220.000 đồng và 05 lần D bán cho Lê Thị T2 tổng số 130 tờ với tổng số tiền 9.300.000 đồng. Sau đó, T2 đã bán 13 tờ cho các công nhân không rõ lai lịch được khoảng 1.170.000 đồng; nhờ Trần Minh H (là chồng) chuyển hộ 03 tờ bán cho 03 người không rõ lai lịch được 360.000 đồng và T2 thỏa thuận bán bán 90 tờ cho một người không rõ lai lịch, trong đó nhờ H chuyển hộ trước 05 tờ đi bán cho người này thì bị lực lượng công an phát hiện. Hoành bán 25 tờ giấy khám sức khỏe giả cho anh Vừ Mạnh H3, ông Cao Văn H4, chị Đặng Dương A và các công nhân không rõ lai lịch được tổng số tiền 2.500.000 đồng và khi N1 bán giấy khám sức khỏe giả cho D thì 03 lần Hoành đem 100 tờ đi giao hộ N1. D2 là người chuyển hộ D 02 tờ giấy khám sức khỏe giả bán cho 01 người và cầm hộ D các tờ giấy khám sức khỏe giả sau khi D mua của N1 để D bán cho T2. Nguyễn Thị G1 là người bán hộ D 02 tờ giấy khám sức khỏe giả cho 02 người không rõ lai lịch được D cho 20.000 đồng tiền công. H là người chuyển hộ T2 03 tờ giấy khám sức khỏe giả bán cho 03 người thu được 60.000 đồng tiền công và chuyển hộ Thảo 50 tờ giấy khám sức khỏe giả để đi bán cho một người. Với hành vi nêu trên, các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Về tội danh các bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, thấy rằng:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích vai trò đồng phạm, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo đã tự nguyện nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền phạt, truy thu và án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo H1 giao nộp tài liệu thể hiện bị cáo nộp tiền ủng hộ khắc phục hậu quả bão số 3 và ủng hộ Quỹ vì người nghèo xã T, huyện K năm 2024; tài liệu thể hiện bố đẻ bị cáo là ông Lưu Danh H2 bị thương khi trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm 1984 (thương tích loại A). Bị cáo T2 giao nộp tài liệu thể hiện bị cáo nộp tiền ủng hộ Quỹ vì người nghèo phường T, thành phố H, Q vì người nghèo và ủng hộ khắc phục hậu quả bão số 3 xã T, huyện K. Đây là các tài liệu thể hiện các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật, biết sống có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội được coi là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, HĐXX áp dụng thêm cho các bị cáo và giảm cho các bị cáo một phần hình phạt so với quyết định của bản án sơ thẩm.

Bị cáo N là người giữ vai trò chính trong vụ án nên dù có giảm cho bị cáo một phần hình phạt thì vẫn phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và ngăn ngừa chung. Để đảm bảo việc thi hành án, HĐXX quyết định bắt bị cáo tại phiên tòa.

Đối với các bị cáo D và H1 là đồng phạm có vai trò thấp hơn bị cáo N, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nếu không buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội cũng không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nên cho các bị cáo được hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách gấp đôi cũng có tác dụng trừng trị, giáo dục các bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, đảm bảo nguyên tắc xử lý người phạm tội theo Điều 3 Bộ luật Hình sự.

[4] Từ nhận định trên, HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo N; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo D và H1, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với 03 bị cáo trong vụ án.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Do sửa bản án sơ thẩm nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 342, khoản 1 Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Thị T2. Phần quyết định của bản án sơ thẩm số 73/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo Lê Thị T2 có hiệu lực pháp luật.

[2] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thị Như. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị D và Lưu Văn H1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Thị D và Lưu Văn H1.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị N 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt về tội “Sử dụng tài liệu giải của cơ quan, tổ chức”. Quyết định bắt và tạm giam bị cáo Trần Thị N ngay tại phiên tòa để đảm bảo việc thi hành án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị Nguyễn Thị D và Lưu Văn H1 mỗi bị cáo 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Giao bị cáo Nguyễn Thị D cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Lưu Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời thử thách. Trường hợp, bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV-CA tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Kim Thành;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Tòa; lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự phúc thẩm (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 13/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2022 đến ngày 04/10/2022, tại thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, Trần Thị N 04 lần đặt mua của một người không rõ lai lịch tổng số 180 tờ giấy khám sức khỏe giả với tổng số tiền 5.900.000 đồng. Sau đó, N bán lại cho N1 04 lần tổng số 180 tờ với tổng số tiền 7.700.000 đồng. Sau khi mua được các giấy khám sức khỏe giả của Như, N1 bán lại cho Nguyễn Thị D 06 lần tổng số 134 tờ với tổng số tiền 8.080.000 đồng và bán lại cho Lưu Văn H1 03 lần tổng số 30 tờ với tổng số tiền 1.500.000 đồng. Sau khi mua giấy khám sức khỏe giả của N1, D nhờ Nguyễn Thị G1 bán hộ 02 tờ cho 02 người được 180.000 đồng; nhờ Phùng Thị D2 chuyển hộ 02 tờ bán cho 01 người được 220.000 đồng và 05 lần D bán cho Lê Thị T2 tổng số 130 tờ với tổng số tiền 9.300.000 đồng. Sau đó, T2 đã bán 13 tờ cho các công nhân không rõ lai lịch được khoảng 1.170.000 đồng; nhờ Trần Minh H (là chồng) chuyển hộ 03 tờ bán cho 03 người không rõ lai lịch được 360.000 đồng và T2 thỏa thuận bán bán 90 tờ cho một người không rõ lai lịch, trong đó nhờ H chuyển hộ trước 05 tờ đi bán cho người này thì bị lực lượng công an phát hiện. Hoành bán 25 tờ giấy khám sức khỏe giả cho anh Vừ Mạnh H3, ông Cao Văn H4, chị Đặng Dương A và các công nhân không rõ lai lịch được tổng số tiền 2.500.000 đồng và khi N1 bán giấy khám sức khỏe giả cho D thì 03 lần Hoành đem 100 tờ đi giao hộ N1. D2 là người chuyển hộ D 02 tờ giấy khám sức khỏe giả bán cho 01 người và cầm hộ D các tờ giấy khám sức khỏe giả sau khi D mua của N1 để D bán cho T2. Nguyễn Thị G1 là người bán hộ D 02 tờ giấy khám sức khỏe giả cho 02 người không rõ lai lịch được D cho 20.000 đồng tiền công. H là người chuyển hộ T2 03 tờ giấy khám sức khỏe giả bán cho 03 người thu được 60.000 đồng tiền công và chuyển hộ Thảo 50 tờ giấy khám sức khỏe giả để đi bán cho một người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger