Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 10-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Trọng Tình;
  • 2/ Ông Đoàn Văn Lước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Trung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05 và 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1999; tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Mai Thị T; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 06/8/2024, sau đó tạm giam cho đến nay; có mặt

Bị hại: Anh Đào T, sinh năm 2003; địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt

Người làm chứng:

  • - Ông Đào Đức N; có mặt
  • - Anh Lý Thanh S; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lý C, Đào Thiên T1, Nguyễn Tuấn D, Lý Thanh S quen biết nhau, Lý C tạm trú tại huyện V, tỉnh Đồng Nai, T1, D, S cùng thường trú tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Ngày 06/6/2024, Lý C cho T1 vay số tiền 25.000.000 đồng với thỏa thuận đóng tiền lãi cho Lý C theo kỳ 5 ngày với số tiền lãi mỗi kỳ là 2.500.000 đồng. T1 đã đóng 6 kỳ với tổng số tiền là 15.000.000 đồng và tính đến ngày 05/8/2024 T1 còn nợ tiền lãi của Lý C 5 kỳ với tổng số tiền 12.500.000 đồng. Lý C nhiều lần yêu cầu T1 trả tiền, T1 chưa có khả năng trả nên tránh mặt Lý C.

Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 05/8/2024, T1 điều khiển xe mô tô biển số 51S1-3337 đi đến quán M1 thuộc ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương để ăn tối. Lúc này, Lý C gọi điện thoại cho D nói T1 đang ở quán mì gõ A gần bến phà Bà M, xã T và kêu D đến gặp T1 nói chuyện nhằm mục đích kéo dài thời gian để Lý C đi từ xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đến gặp T1 để đòi tiền thì D đồng ý. D điện thoại cho S rủ S đến cùng gặp thanh nói chuyện để giữ chân T1 chờ Lý C qua đòi tiền T1, thì S đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe mô tô hiệu Exciter biển số 59X2-349.40 đến gặp T1 trước và kêu T1 ra phía trước quán nói chuyện nhằm mục đích chờ C đến. Khi D và T1 đang đứng nói chuyện với nhau tại trước quán mì gõ A S1 thì S gọi điện cho D hỏi T1 đang ở đâu để S tới thì D nói Lý C đang qua sắp tới bến phà Bà M và kêu S đứng đợi ở bến P Miêu chờ Lý C qua rồi dẫn Lý C đến luôn.

S dừng xe đứng đợi tại bến phà Bà M mấy phút thì C nhỏ điều khiển xe mô tô biển số 83P2-324.81 chở Lý C từ phà lên hướng về quán M1, S điều khiển xe mô tô của mình theo sau. Khi vừa tới quán M1, Lý C lao vào dùng tay đánh vào vùng mặt và bụng của T1, còn Cường N1, S, D thì đứng xem (C nhỏ, D đứng cách khoảng 2-3m, S ngồi trên xe mô tô cách khoảng 6-7m). Lúc này, Lý C kêu T1 ngồi lên xe mô tô để Lý C chở đến nhà trọ của Lý C ở xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai để viết giấy nợ số tiền mà T1 còn nợ. Nghe vậy, T1 không đồng ý mà nói để kêu ba của T1 ra nói chuyện với Lý C. Lý C không chịu và đe dọa “mày không đi tao đập chết mẹ mày”. Do lo sợ tiếp tục bị đánh nên T1 đồng ý đi theo Lý C nhưng T1 nói là “để em ngồi xe anh D chở”. Lúc này, Lý C kêu D điều khiển xe mô tô chở T1 đi thì D đồng ý, D có nói “để anh chở qua viết giấy nợ, không sao đâu”, T1 lên sau xe của D. Sau đó, D điều khiển xe mô tô hiệu Exciter biển số 59X2-349.40 chở T1 đi về hướng bến phà Bà M. Lý C điều khiển xe mô tô biển số 83P2-324.81 chạy cặp phía bên phải xe D, Cường N1 điều khiển xe mô tô biển số 51S1-3337 của T1 chạy cặp phía bên trái xe D và S điều khiển xe chạy phía sau khoảng 7-8m.

Trên đường đi, T1 kêu D chở về nhà nhưng D không đồng ý mà nói “muốn gì thì vào bến đò nói chuyện với anh C”. Sau khi D chở T1 đi đến bến đò Bà M thuộc ấp E, xã T thì T1 điện thoại cho ông Đào Đức N là cha ruột nói “con đang bị bắt ở bến phả”. Khoảng 05 phút sau, ông N điều khiển xe mô tô đi đến nơi và nói “bọn mày ở đây để gọi Công an ra giải quyết”. Nghe vậy, Lý C và C nhỏ bỏ xe chạy xuống bến đò Bà M. Thấy vậy, ông N giữ tay và quật ngã Lý Cường để chờ Công an đến làm việc thì D chạy lại ôm và bẻ tay ông N để cho Lý C bỏ chạy thoát. Riêng T1 thì giằng co với Cường N1 nhưng không giữ lại được. Sau khi xuống phà Lý C và Cường N1 nhảy xuống sông Đ bỏ trốn, còn lại S và D điều khiển xe mô tô bỏ chạy về hướng UBND xã T. Sau đó, Ông N cùng T1 đến Công an xã T, trình báo sự việc. Công an xã T đã tiến hành tạm giữ tài sản có liên quan:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng biển số 83P2 – 324.81.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu trắng xanh biển số 59X2-349.40.

Sau đó, Công an xã T hồ sơ ban đầu chuyển cho cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thụ lý theo thẩm quyền.

Xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng biển số 83P2 – 324.81 do bà Trần Thị Cẩm T2 (sinh năm 1992, nơi đăng ký thường trú: số F N, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng) đăng ký chủ sở hữu. Qua xác minh tại Công an phường C1, thành phố S xác định: Hiện tại bà T2 đi đâu làm gì không rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa làm việc được. Ngày 05/8/2024, C nhỏ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển mô tô này chở Lý C từ huyện V, tỉnh Đồng Nai đến B, tỉnh Bình Dương để gặp T1 đòi nợ. Kết quả tra cứu tại Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xác định xe mô tô này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu trắng xanh biển số 59X2-349.40 do ông Triệu Ngọc T3 (sinh năm 1977, nơi đăng ký thường trú: số C N, khu phố B, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh) đăng ký chủ sở hữu. Ông T3 chết tháng 02/2016 do tai nạn giao thông. Nguyễn Tuấn D khai mua xe mô tô trên của một người không nhớ rõ nhân thân lai lịch vào năm 2022 với giá 15.000.000 đồng có làm giấy mua bán nhưng hiện tại đã làm mất. Ngày 05/8/2024, theo yêu cầu của Lý Cường D1 điều khiển xe mô tô này để chở T1 đến huyện V, tỉnh Đồng Nai để viết giấy nợ. Kết quả tra cứu tại Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xác định xe mô tô này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng số 109/CT-VKS.TU ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn D phạm tội “Bắt người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với xe mô tô biển số 59X2-349.40, đề nghị giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xe mô tô biển số 83P2 – 324.81 để xử lý sau khi bắt được bị can Lý C.

Đối với bị can Lý C có hành vi cùng Nguyễn Tuấn D bắt người trái pháp luật, hiện tại đã bỏ trốn khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Ngày 03/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều Công an huyện B, tỉnh Bình Dương ra Quyết định tách vụ án hình sự số 1042, Quyết định truy nã bị can, khi nào bắt được sẽ tiếp tục xử lý sau. Đối với hành vi của Lý Thanh S đã dẫn đường cho Lý C đến gặp bị hại T1 sau đó đi theo sau xe trở bị hại T1 đến bến phà Bà M; nhân thân lai lịch của C nhỏ, hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và hành vi chiếm đoạt xe mô tô của bị hại sẽ được làm rõ và xử lý sau khi bắt được bị can Lý C nên Viện kiểm sát chưa có cơ sở để đề nghị xử lý.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về làm công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không khiếu nại gì đối với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, do đó đủ cơ sở xác định: Ngày 05/8/2024, tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương Lý C có hành vi dùng tay đánh bị hại Đào Thiên T1, đe doạ tiếp tục đánh bị hại Đào Thiên T1 để ép Đào Thiên T1 phải lên xe mô tô để trở đi đến nhà trọ của mình thuộc xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai để viết giấy nhận nợ, bị cáo Nguyễn Tuấn D chứng kiến việc Lý C đánh và hăm doạ bị hại, tiếp nhận ý trí của Lý C, giúp sức cho Lý C bằng việc sử dụng xe mô tô biển số 59X2-349.40 của mình điều khiển chở bị hại đi theo chỉ đạo của Lý C. Do đã bị Lý C đánh trước đó, nghe Lý C hăm doạ đánh, bị hại sợ bị đánh nên đã miễn cưỡng lên xe để D chở đi. Hành vi của Nguyễn Tuấn D và đồng phạm đối với bị hại là hành vi bắt người trái pháp luật. Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì thái độ coi thường pháp luật mà cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo và đồng phạm xâm phạm đến quyền tự do của người khác được pháp luật bảo vệ làm mất an ninh trật tự địa phương. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự, Cáo trạng truy tố cũng như luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo từng tham gia lực lượng dân quân xã T được Chủ tịch UBND xã T tặng Giấy khen vì có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2019 nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[4] Về hình phạt đối với bị cáo: Xét mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên có cơ sở chấp nhận. Hành vi của bị cáo xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, hoạt động có tính chất băng nhóm xã hội đen, cần phải có hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 59X2-349.40 do ông Triệu Ngọc T3 đứng tên đăng ký chủ sở hữu nhưng ông T3 đã chết nên không có cơ sở làm rõ được nguồn gốc của xe trên, qua xác minh xe không có trong dữ liệu xe vật chứng, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, phải tịch thu sung ngân sách nhà nước; đối với xe mô tô biển số 83P2-324.81 do bà Trần Thị Cẩm T2 đứng tên đăng ký chủ sở hữu nhưng Cơ quan điều tra chưa làm việc được với bà T2, mặt khác đây là phương tiện do đối tượng C nhỏ và Lý C sử dụng làm phương tiện phạm tội, hiện cơ quan điều tra đã tách vụ án để xử lý với Lý C (do Lý C bỏ trốn) và chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của C nhỏ, cần thiết giao xe này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ để tiếp tục xác minh và xử lý sau.

[6] Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi tại phiên toà, xét thấy chưa đủ cơ sở để xác định Lý Thanh S có đồng phạm với Nguyễn Tuấn D hay không. Do đó, khi bắt được Lý C, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục làm rõ, xử lý sau là phù hợp, đồng thời làm rõ nhân thân, lai lịch của C nhỏ, hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và hành vi chiếm đoạt xe mô tô của bị hại để xử lý theo quy định.

[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 268, Điều 269, Điều 290, Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn D phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với xe mô tô biển số 59X2-349.40 có số khung CE55P10CY127773 và số máy 55P1127803.

- Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiếp tục tạm giữ, xử lý sau đối với xe mô tô biển số 83P2-324.81 có số khung RLHHC1213DY5 và số máy HC12E5505093.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên đang tạm giữ (thể hiện Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2024).

3. Về án phí sơ thẩm:

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - PV 06 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Công an huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - bắt người trái pháp luật

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Bắt người trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bắt người trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger