|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày 04-02-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hữu Hiệp
Ông Lâm Hữu Đoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 418/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thanh T, sinh năm 1987 (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Bá N, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thanh T trình bày:
Bà và ông Lê Bá N tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 106, ngày 31/7/2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc có 01 người con nhưng thời gian sau đó vợ chồng không được hạnh phúc do không còn tình cảm và không hợp nhau trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, bà và ông N đã ly thân hơn 02 năm nay. Bà nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với ông Lê Bá N.
Về con chung: Có 01 người con chung tên Lê Trần Thùy T1 (nữ), sinh ngày 05/5/2011, hiện bà đang nuôi con. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Người con chung tên Lê Trần Thùy T1 trình bày: Trường hợp bà T và ông N ly hôn thì có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà Trần Thanh T.
Trong quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Lê Bá N đúng theo quy định pháp luật nhưng ông N không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngày 12/12/2024, bà Trần Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Lê Bá N đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thanh T và ông Lê Bá N tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông N là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Bà T yêu cầu được ly hôn với ông N do mâu thuẫn vợ chồng gay gắt, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, hiện nay bà và ông N đã ly thân không còn sống chung. Ông N cũng không có động thái để hàn gắn tình cảm vợ chồng và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà T. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà T về việc xin ly hôn với ông N.
[3]. Về con chung: Đối với người con chung tên Lê Trần Thùy T1 (nữ), sinh ngày 05/5/2011, hiện đang sống chung với bà T và có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với bà T, bà T cũng yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Ông N không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà T. Do đó để đảm bảo điều kiện sống bình thường và ổn định của người con chung khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử cần tiếp tục giao con chung cho bà Trần Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng nên yêu cầu của bà T là có căn cứ được chấp nhận. Ông Lê Bá N không trực tiếp nuôi con có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thanh T, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thanh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6]. Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thanh T phải chị án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thanh T xin ly hôn với ông Lê Bá N. Bà T được ly hôn với ông N.
- Về con chung: Giao người con chung tên Lê Trần Thùy T1 (nữ), sinh ngày 05/5/2011 cho bà Trần Thanh T tiếp tục trông nom, chăm sóc giáo dục. Ông Lê Bá N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Bà Trần Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Bà T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006823 ngày 15/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bà T, ông N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Lụa |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
