|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:13/2025/HS-ST
Ngày 23 tháng 01 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thắng
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Điện
- Ông Nguyễn Văn Kháng
- - Thư ký phiên toà: bà Phạm Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, tiến hành xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:02/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:02/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với:
1. Bị cáo họ và tên: Lê Hữu T, sinh năm 1990 (tên gọi khác: Mường), tại huyện B, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: thôn M, xã V, huyện B, thành phố H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng Q và bà Nguyễn Thị T1; có vợ Trịnh Thị L và 1 con; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: ngày 15/9/2010 bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt 8 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 26/01/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án ngày 15/9/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây là 8 năm 9 tháng tù. Bị cáo chấp hành án xong hình phạt tù ngày 15/11/2017. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/10/2024, tạm giam từ ngày 29/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Người làm chứng:
Ông Lê Hữu H, sinh năm 1955; bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; Cùng địa chỉ: thôn M, xã V, huyện B, thành phố Hà Nội.
Anh Nguyễn Mạnh T2, sinh năm 1980; địa chỉ: thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Anh Phạm Mạnh T3, sinh năm 1979; địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 25/10/2024, T sử dụng điện thoại di động đăng nhập tài khoản facebook “Le Truong” của T vào trang “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều”. Đến ngày 26/10/2024 tài khoản Facebook “H” gửi hình ảnh các hộp pháo nổ giàn 36 quả cho T và nói đang cần 05 hộp pháo nổ giàn 36 quả có đặc điểm như hình ảnh. T hỏi lại là “có người vận chuyển hàng chưa” người này trả lời “chưa có” nên T đã nhận vận chuyển pháo nổ để lấy tiền công. Sau đó, người này hẹn T trưa ngày 26/10/2024 đến khu vực thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên nhận 5 hộp pháo nổ giàn 36 quả mang đến khu vực cầu T, B, Hà Nội sẽ trả công 500.000đ, T đồng ý. Khoảng 08 giờ 00 ngày 26/10/2024, Facebook “H” gửi cho T số điện thoại 0813.268.xxx đăng ký tài khoản Zalo “Hải Nam” để liên lạc vận chuyển pháo nổ. T sử dụng tài khoản Z “Thành” đăng ký bằng số điện thoại 0961.841.xxx liên lạc với số điện thoại 0813.268.xxx thì có người giới thiệu tên là “Hải Nam”. Đến khoảng 09 giờ 40 cùng ngày, H nhắn tin zalo, gửi số điện thoại của người giao pháo là 0587.991.887 cho T để liên hệ nhận pháo nổ. Hải Nam ứng trước cho T 100.000đ tiền để đổ xăng xe thông qua hình thức chuyển khoản. Đến 09 giờ 55 phút, T sử dụng số điện thoại 0961.841.xxx liên lạc với số điện thoại 0587.991.xxx liên hệ việc nhận pháo thì được hẹn gặp ở khu vực chợ Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 33L6 – 6776 đến khu vực chợ Đ rồi gọi điện cho người giao pháo thì người này bảo chờ 30 phút. Đến khoảng 12 giờ 20, có một nam thanh niên đeo khẩu trang màu trắng, đi xe Honda Wave, màu đỏ, không rõ biển số đến bảo T đi theo. T đi theo người thanh niên đến khu vực Nghĩa trang T5, xã Đ, huyện V thì người thanh niên dừng xe lại, xuống xe, đi vào nghĩa trang bê ra 01 thùng catton hình chữ nhật ra đưa T và nói trong hộp có 05 hộp pháo giàn 36 quả để T mang giao cho Hải N. T nhận thùng catton bên trong đựng pháo nổ bê để lên yên xe phía sau. Khi T điều khiển xe đi được khoảng 50m thì bị Công an huyện V phát hiện bắt quả tang thu giữ tại yên xe 01 thùng bìa catton hình chữ nhật màu nâu, trắng bên trong có 05 hộp đều bọc bên ngoài giấy màu đỏ - đen - vàng, có in hình chữ nước ngoài, kích thước (15,5 x 15,5 x 14,5) cm, được niêm phong ký hiệu “P” và các vật chứng khác.
Bản kết luận giám định số 354 ngày 02/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: “Các vật hình hộp chữ nhật bên trong niêm phong ghi ký hiệu P, có tổng khối lượng là 7,4 kg, là pháo, loại: pháo nổ (Pháo hoa nổ)”.
Cáo trạng số: 05/CT-VKS-VL ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Lê Hữu T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Lê Hữu T phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”; Xử phạt bị cáo Lê Hữu T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết các vấn đề về vật chứng, các biện pháp tư pháp và án phí của vụ án.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp khách quan với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: do có mục đích kiếm lời, khoảng 12 giờ 45 phút ngày 26/10/2024, tại thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Lê Hữu T đang thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 7,4 kg pháo hoa nổ thì bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đã truy tố bị cáo Lê Hữu T về tội: “Vận chuyển hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về cấm sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán pháo nổ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc vận chuyển trái phép pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị kết án về các tội “cướp tài sản” và “trộm cắp tài sản”, đã từng phải chấp hành hình phạt tù của hai bản án là 08 năm 09 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù vào tháng 11 năm 2017. Nhưng bị cáo đã không lấy đó làm bài học, không chịu ru dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục phạm tội. Chính vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân biết chấp hành pháp luật cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên cũng xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Đối với người giao pháo hoa nổ cho T có sử dụng số điện thoại 0587.991.xxx. Quá trình điều tra, xác định số thuê bao điện thoại nêu trên đăng ký chính chủ tên Phan Văn T4, sinh năm 1978 ở thôn G, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã làm việc với anh T4, anh T4 khai không sử dụng số điện thoại trên và không biết ai là người đang sử dụng số điện thoại trên. Anh T4 không có mối quan hệ gì với Lê Hữu T và người có tài khoản Z là “H”. Đối với tài khoản ngân hàng T6 số [...] mang tên VUONG TOAN QUANG. Quá trình điều tra, xác định chủ tài khoản là anh Vương Toàn Q1, sinh năm 1978 ở thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Anh Q1 không sử dụng tài khoản ngân hàng trên và anh Q1 không biết ai đang là người sử dụng số tài khoản ngân hàng trên. Anh Q1 không có mối quan hệ với Lê Hữu T và người có tên Z là “H”. Do vậy Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh T4, anh Q1 là đúng.
Đối với người có tài khoản Z là “H” sử dụng số điện thoại 0813.268.xxx. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã có công văn gửi đến Tổng Công ty H1 (V), kết quả số thuê bao 0813268138 chưa kích hoạt sử dụng mạng VNPT, không có số liệu phát sinh. Đối với chủ tài khoản Facebook “H”, đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh giải quyết sau là phù hợp.
[3]. Về hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo Lê Hữu T làm nghề tự do không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 46; 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy một hộp bìa catton hoàn mẫu vật gửi giám định ghi 354/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh H, bên trong có 5,9 kg pháo hoa nổ trong niêm phong ghi ký hiệu “P”.
Đối với một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020 màu trắng của bị cáo T đã sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu bán phát mại lấy tiền sung Ngân sách nhà nước.
Truy thu của bị cáo Lê Hữu T 100.000đ (một trăm nghìn đồng) là số tiền bên thuê vận chuyển ứng trước cho bị cáo để sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với chiếc xe nhãn hiện Honda Wave, màu sơn xanh, biển số 33L6-6776 bị cáo T sử dụng vào việc vận chuyển pháo hoa nổ được xác định là của bà Nguyễn Thị T1. Bà T1 không biết T sử dụng xe vào việc phạm tội nên cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe này cho bà T1 ở giai đoạn điều tra, bà T1 không có yêu cầu gì thêm do vậy không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Tại phiên tòa, quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề cần giải quyết trong vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Hữu T phải nộp 200.000 án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: tuyên bố bị cáo Lê Hữu T phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.
[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Hữu T 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 26/10/2024.
[3] Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy một hộp bìa catton hoàn mẫu vật gửi giám định ghi 354/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh H, bên trong có 5,9 kg pháo hoa nổ trong niêm phong ghi ký hiệu “P”.
Tịch thu phát mại lấy tiền sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu trắng của bị cáo Lê Hữu T.
Truy thu của bị cáo Lê Hữu T 100.000đ (một trăm nghìn đồng) là số tiền bên thuê vận chuyển ứng trước cho bị cáo để sung Ngân sách Nhà nước.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Hữu T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nam Thắng |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Kháng Nguyễn Thị Thắn | Nguyễn Nam Thắng |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Thành
