|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ———————————— |
Bản án số: 13/2025/HS-ST
Ngày 22-01-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Khắc Tân
Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường, là Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 01 năm 2025 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu trung tâm: Tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần: Tại Trại tạm giam Công an thành phố H vụ án hình sự thụ lý số: 314/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Văn C, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1987 tại Điện Biên. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản V, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi ở hiện tại: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn D và bà Lò Thị X; có vợ Quàng Thị B (đã ly hôn), có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 19/9/2024, tạm giam ngày 27/9/2024; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; địa chỉ: Số A L, phường Q (nay là phường Đ), quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/9/2024, Công an phường A, quận L, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phường đến khu vực đầu ngõ A T, phường A, phát hiện Lò Văn C đang đi bộ từ trong ngõ ra có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra, C thả từ lòng bàn tay phải xuống đất ngay sát cạnh chân phải của C 01 gói nilon màu trắng mép viền màu đỏ kích thước khoảng 03 x 03 cm bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy Heroine). Ngoài ra, còn thu giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng và số tiền 100.000 đồng. Sau đó, tổ công tác đã đưa C cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 1086/KL-KTHS ngày 24/9/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn C gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,15 gam là loại Heroine.
Lò Văn C khai nhận: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 19/9/2024, C đi xe ôm từ T đến khu vực đường T, quận L, Hải Phòng để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, C gặp 01 nam giới không quen biết hỏi mua ma túy. Nam giới đồng ý rồi bảo C ngồi lên xe nam giới chở đến khu vực trong ngõ A T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng, khi đến nơi nam giới đưa C 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu trắng, C biết đây là ma túy cần mua nên đưa 200.000 đồng cho nam giới, sau đó nam giới điều khiển xe mô tô bỏ đi trước. C cầm gói nilon chứa ma túy vừa mua được ở tay phải đi bộ ra đầu ngõ thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSLC ngày 25 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Lò Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như nội dung trên và khai không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn C mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy theo niêm phong số 1086MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của mẫu vật có chữ ký của những người liên quan.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng và số tiền 100.000 đồng.
Đối với người bán ma túy cho Lò Văn C, C khai không biết lai lịch địa chỉ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra làm rõ; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Không có ý kiến hay tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng như bản Cáo trạng số 02/CT-VKSLC ngày 25 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Lò Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Lượng Heroin bị cáo tàng trữ 0,15g không lớn, mục đích để sử dụng cho bản thân, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án thấp của Kiểm sát viên đề nghị cũng đủ để răn đe, cải tạo bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 19/9/2024, Lò Văn C đã có hành vi cất giữ trái phép 0,15 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang tại khu vực đầu ngõ A T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.
[4] Bị cáo biết hành vi cất giữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do là đối tượng sử dụng ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; kiểm sát viên tham gia phiên toà và người bào chữa cho bị cáo có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên được xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
[7] Về ý kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xét thấy ý kiến của người bào chữa cho bị cáo có cơ sở nên được xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
- Về hình phạt áp dụng:
[8] Từ những phân tích trên cần áp dụng hình phạt nghiêm buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[9] Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập; nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo tại phiên toà.
- Về xử lý vật chứng:
[10] Lượng Heroin thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,15g; sau khi lấy 0,06g đi giám định lượng còn lại và vỏ bao gói được niêm phong lại trong một bì giấy có dấu niêm phong số 1086MT/PC09 và có chữ ký của những người liên quan; xét đây là vật cấm lưu hành, đối chiếu điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[11] Đối với số tiền 100.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đỏ, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, mật khẩu điện thoại 2008, IMEL: 866030041879297 thu giữ của bị cáo; tài liệu điều tra không chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo khai số tiền do lao động mà có điện thoại dùng để liên lạc với người thân và bạn bè; đối chiếu khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại bị cáo.
- Về án phí:
[12] Theo tài liệu trong hồ sơ do chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cung cấp: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo cũng có đơn xin miễn án phí; căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo:
[13] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Lò Văn C 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 9 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy có dấu niêm phong số 1086MT/PC09 và có chữ ký của những người liên quan bên trong đựng số ma túy còn lại cùng vỏ bao gói sau giám định.
Trả lại bị cáo số tiền 100.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đỏ, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, mật khẩu điện thoại 2008, IMEL: 866030041879297 thu giữ của bị cáo.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26 tháng 12 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận L và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân và Ủy nhiệm chi ký hiệu: C4-02a/KB, số 93.2024/QĐ-CALC(HTTP) ngày 30/12/2024 giữa Công an quận L và Kho bạc Nhà nước quận L).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lò Văn C được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Lộc |
Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 13/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn C Tàng trữ trái phép chất ma túy
