TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 13 - 12 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Tiến Hiệt
Ông Đỗ Đức Vinh.
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Lâm Tới - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 26/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng Thị S (tên gọi khác: Giàng Thị S1), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979 tại: huyện Y, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Lao C (Đã chết) và bà Phàng Thị D (Đã chết); bị cáo có chồng và 03 con. Con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2003.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 24/4/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 194, điểm h, p khoản 1 Điều 46 BLHS (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 19 giờ 05 phút ngày 22/08/2024, tổ công tác Đồn biên phòng C1 - BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh S phối hợp với Công an xã C, huyện Y làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đã phát hiện và bắt quả tang Giàng Thị S, sinh năm 1979, trú tại bản Co Lắc, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ gồm 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine do Giàng Thị S tự giác lấy trong túi màu đỏ đeo trên người giao nộp. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Ngày 23/8/2024 Đồn Biên phòng C1- BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh S phối hợp với Phòng K Công an tỉnh S tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Giàng Thị S được tổng khối lượng là 0,22 gam, trích 0,09 gam chất bột màu trắng ký hiệu S gửi giám định chất ma túy, loại ma tuý; còn lại 0,13 gam chất bột màu trắng kí hiệu L nhập kho vật chứng.
Tại kết luận giám định số: 1634/KL- KTHS ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định kí hiệu S là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi là 0,09 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,22 gam; Loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Giàng Thị S khai nhận: Vào khoảng 07 giờ ngày 22/8/2024, Giàng Thị S mang theo số tiền 50.000 đồng một mình đi bộ từ bản Co Lắc, xã C, huyện Y đến bản P, xã C, huyện Y mục đích tìm mua ma túy để bản thân sử dụng. Khi đi đến khu vực biên giới nước CHXHCN V-CHDCND Lào, thuộc địa phận bản P, xã C, huyện Y, S gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, không quen biết đang đi bộ ngoài đường. Qua trao đổi S đã hỏi và mua được của người phụ nữ đó 01 gói Heroine, bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S cất giấu vào trong chiếc túi da màu đỏ đeo trên người rồi đi bộ về nhà. Khi S về đến khu vực cột mốc 242 thuộc địa phận bản Pa Khôm, xã C, huyện Y thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng C1- BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh S phối hợp với Công an xã C, huyện Y phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSYC ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử bị cáo Giàng Thị S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo S thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng Thị S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 20 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu tiêu hủy vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu, vỏ gói ban đầu và 0,13 gam Heroine đựng trong túi nilon màu trắng. 01 túi da màu đỏ mận có dây đeo, đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với Bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Về tình tiết định tội định khung hình phạt:
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/8/2024, biên bản niêm phong vật chứng ngày 22/8/2024, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 23/8/2024, Kết luận giám định số 1634/KL-KTHS ngày 26/8/2023, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người chứng kiến, và đều phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/8/2024, Giàng Thị S có hành vi cất giấu trái phép 0,22 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng C1- BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh S phối hợp với Công an xã C, huyện Y phát hiện bắt quả tang tại bản Pa Khôm, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố và Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử bị cáo Giàng Thị S là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm mà bị cáo đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, lây lan đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp của, giết người.. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng hình phạt để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu nghiện hút ma túy của mình. Tuy nhiên khi xảy ra sự việc bị cáo tự giác giao nộp số ma túy đang tàng trữ trong người cho Cơ quan điều tra, ngoài mục đích tàng trữ để sử dụng bị cáo không có mục đích khác.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Khi bị tổ công tác Đồn Biên phòng C1- BCH Bộ đội Biên phòng tỉnh S phối hợp với Công an xã C, huyện Y kiểm tra Giàng Thị S đã tự giác khai nhận và giao nộp số ma túy đang tàng trữ để cơ quan chức năng xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Tại Bản án số 46/2008/HSST ngày 24/4/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tuyên xử phạt Giàng Thị S1 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 194; điểm h, p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. Đến ngày 17 tháng 10 năm 2009 Giàng Thị S1 chấp hành xong án phạt tù, án phí HSST. (Đã được xóa án tích).
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế do không biết chữ. Tuy nhiên bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy lâu năm, đã 01 lần bị Tòa án xử phạt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng sau khi chấp hành hình phạt quay trở lại địa phương làm ăn, sinh sống không ăn năn hối cải, lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặc dù bị cáo đã được xóa án tích nhưng việc bị cáo tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật mà trước đó bị cáo đã bị xét xử thể hiện sự coi thường pháp luật, thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng, hối cải của bị cáo. Do vậy bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì giấy niêm phong, dán kín, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ: Giàng Thị S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 22/8/2024, tại bản Pa Khôm, C, Y”. Trên mép dán phong bì dán giấy niêm phong số sêri 070764, bên trong đựng 01 vỏ gói niêm phong bản đầu, vỏ gói ban đầu và 0,13 gam Heroin đựng trong túi nilon màu trắng; 01 túi da màu đỏ mận có dây đeo, đã qua sử dụng. Xét thấy đây là những vật cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người phụ nữ dân tộc Mông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này, nên cơ quan CSĐT Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.
[11] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Giàng Thị S (Giàng Thị S1) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Giàng Thị S 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/08/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan và chất ma túy còn lại bao gồm: 01 phong bì giấy niêm phong, bên trong đựng 01 vỏ gói niêm phong ban đầu, vỏ gói ban đầu và 0,13 gam Heroin đựng trong túi nilon màu trắng; 01 túi da màu đỏ mận có dây đeo, đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị S.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 13/12/2024.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội Thẩm Hội Thẩm | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Sơn La;
- - VKSND tỉnh Sơn La;
- - VKSND huyện Yên Châu;
- - Công an huyện Yên Châu;
- - Trại giam;
- - THA hình sự;
- - CCTHA Dân sự;
- - Sở TP;
- - Bị cáo;
- - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện;
- - Lưu: hồ sơ, án văn.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giàng Thị S phạm tội Tàng trữ TPCMT
