Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST

Ngày 05-12-2024.

V/v: Ly hôn giữa chị Hoa và anh May.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1 – Ông Lò Văn Khẹt.

2 – Bà Quàng Thị Hỏa.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 05/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Tòng Thị H, sinh năm 1991.

Trú tại: Bản L, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lò Văn Đ, Luật sư. Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Quàng Văn M, sinh năm 1994.

Trú tại: Bản L, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ngân hàng C, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Trọng D – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Có đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2024 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Tòng Thị H trình bày:

Chị và anh Quàng Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 27/11/2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung không hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai người bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không khắc phục được. Từ nhiều năm hai người sống không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị Tòng Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Quàng Văn M.

Về con chung: Có ba con là Quàng Văn K, sinh ngày 19/9/2012, Quàng Thị N, sinh ngày 05/10/2014 và Quàng Thị Khánh L, sinh ngày 21/9/2019. Chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con Quàng Thị Khánh L, để anh Quàng Văn M nuôi con Quàng Văn K và Quàng Thị N. Theo nguyện vọng của các con. không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Có nợ Ngân hàng C huyện M số tiền 50.000.000, đồng. Số nợ trên yêu cầu chia đôi.

Bị đơn anh Quàng Văn M trình bày: Anh xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Tòng Thị H và anh Quàng Văn M. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai của nguyên đơn chị Tòng Thị H. Xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng khắc phục được và không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có ba con là Quàng Văn K, sinh ngày 19/9/2012, Quàng Thị N, sinh ngày 05/10/2014 và Quàng Thị Khánh L, sinh ngày 21/9/2019. Anh có nguyện vọng được nuôi ba con, không yêu cầu chị Tòng Thị H cấp dưỡng.

Về tài sản chung, riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Có nợ Ngân hàng C huyện M số tiền 50.000.000, đồng. Số nợ trên yêu cầu chị Tòng Thị H phải trả.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ngân hàng C, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La trình bày:

Căn cứ sổ vay vốn mã khách hàng 7084951644, ngày 16/8/2020 Ngân hàng cho gia đình anh Quàng Văn M, chị Tòng Thị H vay theo chương trình hộ nghèo, số tiền gốc vay là 50.000.000, đồng. Nay hai người ly hôn Ngân hàng yêu cầu anh Quàng Văn M là người có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc là 50.000.000, đồng và lãi phát sinh.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Tòng Thị H được ly hôn anh Quàng Văn M. Về con chung: Giao cho anh Quàng Văn M nuôi con Quàng Văn K, sinh ngày 19/9/2012 và Quàng Thị N, sinh ngày 05/10/2014. Chị Tòng Thị H trực tiếp nuôi con Quàng Thị Khánh L, sinh ngày 21/9/2019 là đúng nguyện vọng của các cháu, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về nợ chung: Anh Quàng Văn M trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền vay gốc là 50.000.000, đồng và lãi phát sinh. Chị Tòng Thị H có trách nhiệm trả cho anh Quàng Văn M số tiền 25.000.000, đồng chênh lệch khoản nợ.

Về tài sản chung, riêng: Nguyên đơn đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn chị Tòng Thị H thuộc hộ nghèo được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.

Về nội dung:

Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

Có căn cứ để xử cho chị Tòng Thị H được ly hôn anh Quàng Văn M.

Con chung: Giao cho anh Quàng Văn M nuôi con Quàng Văn K, sinh ngày 19/9/2012 và Quàng Thị N, sinh ngày 05/10/2014. Chị Tòng Thị H trực tiếp nuôi con Quàng Thị Khánh L, sinh ngày 21/9/2019 là đúng nguyện vọng của các cháu, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ chung: Anh Quàng Văn M trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền vay gốc là 50.000.000, đồng và lãi phát sinh. Chị Tòng Thị H có trách nhiệm trả cho anh Quàng Văn M số tiền 25.000.000, đồng chênh lệch khoản nợ.

Về tài sản chung, riêng: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Tòng Thị H thuộc hộ nghèo được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Bị đơn anh Quàng Văn M sau khi được thông báo về việc thụ lý vụ án, đã khai trình bầy nguyện vọng, đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng và đã triệu tập xét xử hợp lệ, có đề nghị được xử vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định của khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt anh Quàng Văn M.

Chị Tòng Thị H là dân tộc thiểu số cư trú vùng KT-XH đặc biệt khó khăn thuộc diện trợ giúp có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là căn cứ.

Nguyên đơn chị Tòng Thị H. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La đều có đơn đề nghị xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định của Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt các đương sự.

Căn cứ theo quy định Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tòng Thị H và anh Quàng Văn M có đăng ký kết hôn, có tìm hiểu, tự nguyện là đúng pháp luật. Cuộc sống chung hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do hai người bất đồng quan điểm sống. Hai người sống ly thân đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau, xét mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được là có căn cứ.

Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị Tòng Thị H và anh Quàng Văn M đã được gia đình và chính quyền khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị Tòng Thị H yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận xử cho chị Tòng Thị H được ly hôn anh Quàng Văn M.

[3] Về con chung: Có ba con là Quàng Văn K, sinh ngày 19/9/2012, Quàng Thị N, sinh ngày 05/10/2014 và Quàng Thị Khánh L, sinh ngày 21/9/2019. Căn cứ vào nguyện vọng của Chị Tòng Thị H xin được nuôi con Quàng Thị Khánh L, để con Quàng Văn K, Quàng Thị N cho anh Quàng Văn M nuôi dưỡng, là đúng nguyện vọng của các con, nên cần chấp nhận giao cho chị Tòng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con Quàng Thị Khánh L. Anh Quàng Văn M trực tiếp nuôi con Quàng Văn K, Quàng Thị N. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con, cần chấp nhận, theo quy định của các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về tài sản chung, riêng: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Khoản nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C được xác định là khoản vay nợ về xây dựng gia đình nằm trong chương trình hỗ trợ hộ nghèo. Hiện xác định chị Tòng Thị H nhất trí thanh toán trả nợ một nửa. Đại diện Ngân hàng có yêu cầu anh Quàng Văn M là người có trách nhiệm trả nợ gốc là 50.000.000, đồng và lãi phát sinh. Theo quy định Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận anh Quàng Văn M trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền vay gốc là 50.000.000, đồng và lãi phát sinh. Chị Tòng Thị H có trách nhiệm trả cho anh Quàng Văn M số tiền 25.000.000, đồng chênh lệch khoản nợ.

[6] Về ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Xử cho chị Tòng Thị H được ly hôn anh Quàng Văn M. Giao cho chị Tòng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con Quàng Thị Khánh L, sinh ngày 21/9/2019. Anh Quàng Văn M trực tiếp nuôi con Quàng Văn K, sinh ngày 19/9/2012 và Quàng Thị N, sinh ngày 05/10/2014. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Không giải quyết về tài sản chung, riêng do nguyên đơn không yêu cầu. Về nợ anh Quàng Văn M trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền vay gốc là 50.000.000, đồng và lãi phát sinh. Chị Tòng Thị H có trách nhiệm trả cho anh Quàng Văn M số tiền 25.000.000, đồng chênh lệch khoản nợ. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ chấp nhận.

Chị Tòng Thị H thuộc hộ nghèo được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

  1. Xử cho chị Tòng Thị H được ly hôn anh Quàng Văn M.
  2. Về con chung: Giao cho chị Tòng Thị H trực tiếp nuôi con Quàng Thị Khánh L, sinh ngày 21/9/2019. Anh Quàng Văn M trực tiếp nuôi con Quàng Văn K, sinh ngày 19/9/2012 và Quàng Thị N, sinh ngày 05/10/2014. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  3. Về tài sản chung, riêng: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Anh Quàng Văn M trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C số tiền vay gốc là 50.000.000, đồng (năm mươi triệu đồng) và lãi phát sinh, theo sổ vay vốn mã khách hàng 7084951644, ngày 16/8/2020. Chị Tòng Thị H có trách nhiệm trả cho anh Quàng Văn M số tiền 25.000.000, đồng (hai mươi năm triệu đồng) chênh lệch khoản nợ.
  5. Về án phí: Chị Tòng Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Tòng Thị H, anh Quàng Văn M, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách, xã hội huyện M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Chi cục THADS huyện Mường La;
  • - UBND xã Hua Trai, huyện Mường La, tỉnh Sơn La (để vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự (3);
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

(đã ký)

Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp ly hôn giữa chị Tòng Thị Hoa và anh Quàng Văn May
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger