|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 05/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nông Hữu Thái
2. Bà Phạm Thị Sinh
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Sỹ Cách - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Biên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/HSST, ngày 21 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trịnh Bá S sinh ngày 20/01/1966; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ H, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 5/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Bá M và bà Nguyễn Thị M1 (đều đã chết); Có vợ là Lường Thị H và 02 con; Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/10/1997, bị TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 21/12/1999 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút, ngày 20/8/2024, tại khu vực tổ H, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an phường P, thành phố B bắt quả tang đối với Trịnh Bá S về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Phát hiện và thu giữ bên trong lòng bàn tay phải của Trịnh Bá S có 01 (một) gói được gói bằng giấy có chữ và số in (loại giấy vé sổ xố kiến thiết) bên trong có chứa chất dạng cục và bột màu trắng nghi là chất ma tuý loại Heroine (được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1). Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và các công trình, phương tiện liên quan tại nhà của Trịnh Bá S tại tổ H, phường P, thành phố B nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản gì liên quan đến việc phạm tội.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 thu giữ của Trịnh Bá S, xác định khối lượng là 0,17 gam (không phẩy một bảy gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ số chất dạng cục và bột màu trắng nói trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định; phong bì ký hiệu A1, giấy gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu M2 bảo quản theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 283/KL-KTHS ngày 26/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,17g (không phẩy một bảy gam). Sau giám định, mẫu chất còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì T181 hoàn trả lại Cơ quan điều tra.
Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Bá S khai nhận: Toàn bộ số chất dạng cục và bột màu trắng bị thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại heroine của S tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma tuý, S khai nhận: Bản thân S là người nghiện ma túy, buổi sáng ngày 20/8/2024, S đi bộ từ nhà tại ngõ F, tổ H, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đến chợ B thuộc tổ E, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để bán rau. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, S lên cơn nghiện chất ma túy nên nảy sinh ý định đi tìm mua ma túy, loại Heroine về để sử dụng cho bản thân. Sau đó S đi bộ từ chợ B ra khu vực Nhà văn hóa tỉnh B thuộc tổ G, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy. Tại đây, S gặp một đàn ông lạ mặt đi bộ, đeo khẩu trang, đội mũ lưỡi trai (S không biết họ tên, năm sinh, địa chỉ của người này). Qua nói chuyện thì S hỏi người đàn ông này là có ma túy, loại heroine bán không thì người này trả lời là có, sau đó S đưa cho người này số tiền 100.000₫ (một trăm nghìn đồng), người đàn ông này nhận tiền và đưa cho S 01 (một) gói được gói bằng giấy có chữ và số in (loại giấy vé xổ số kiến thiết), bên trong có ma túy, loại Heroine. Sau khi bán ma túy cho S xong, người đàn ông lạ mặt đi đâu thì Trịnh Bá S không biết, S cất giấu gói ma túy vừa mua được vào bên trong lòng bàn tay phải của mình. Sau đó S gọi xe ôm (S không biết họ tên, biển kiểm soát xe mô tô của người lái xe ôm) đi về nhà tại tổ H, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để tìm nơi sử dụng trái phép chất ma túy. Khi Trịnh Bá S được người lái xe ôm chở đến gần nhà tại khu vực đầu ngõ F, thuộc tổ H, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì Trịnh Bá S xuống xe đi bộ đi tìm nơi sử dụng chất ma túy, còn người lái xe ôm đi đâu không rõ. Khi Trịnh Bá S đang đi bộ thì bị tổ công tác của Công an phường P, thành phố B kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Lời khai nêu trên của Trịnh Bá S phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 79/CT-VKSTP ngày 19/11/2024 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Trịnh Bá S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
-
*Tuyên bố bị cáo Trịnh Bá S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Bá S từ 15 (mười năm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
*Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T181; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2.
-
*Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
-
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Trịnh Bá S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 00 phút, ngày 20/8/2024, tại tổ H, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Trịnh Bá S có hành vi tàng trữ trái phép 0,17 (không phẩy một bảy) gam ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.
[3] Hành vi nêu trên của Trịnh Bá S đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Cáo trạng số 79/CT-VKSTP ngày 19/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an - xã hội của địa phương. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo; Xét bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử cũng như sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm, mà lại lao vào con đường nghiện chất ma tuý, nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo đã có thời gian bị tạm giữ, tạm giam nên được tính vào thời gian thụ hình cho bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trịnh Bá S vào ngày 20/8/2024 và người đàn ông chạy xe ôm chở Trịnh Bá S từ khu vực Nhà văn hóa tỉnh B thuộc tổ G, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đến khu vực đầu ngõ F, thuộc tổ H, phường P, thành phố B do bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ những người này nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
[6] Về vật chứng trong vụ án:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T181 và 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2. Tất cả đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện chất ma túy và không có tài sản, nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Bá S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- *Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Trịnh Bá S 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/8/2024.
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T181; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2.
- (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/11/2024 giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí. Buộc bị cáo Trịnh Bá S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tư |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Bá S - Tàng trữ trái phép chất ma túy
