|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HSPT-CTN Ngày 04-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Lưu Anh Tuấn và bà Cao Thị Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 27/2024/TLPT-HS-CTN ngày 02 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Quang T do có kháng cáo của bị cáo và bị hại là chị Lại Thị Cẩm V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HSST ngày 08/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh.
1. Bị cáo: Trần Quang T; sinh ngày 14/02/1997 tại Gia Lai; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ dân phố A, thị trấn I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Trần Quang T1, sinh năm 1971 và bà Trần Thị H, sinh năm 1974; Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Lại Thị Cẩm V, sinh năm 2003 (Là bị hại trong vụ án) và có 02 con chung, con lớn nhất sinh năm 2019 và con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
2. Những người tham gia tố tụng khác:
2.1.Bị hại: Lại Thị Cẩm V, sinh ngày 15-12-2003; địa chỉ: Tổ A, thị trấn I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2.2. Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hứa Thị Trung N và bà Hoàng Thị Như N1 là Luật sư của Văn phòng luật sư Hứa Hoàng G; địa chỉ: A L, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đầu năm 2018, Trần Quang T và chị Lại Thị Cẩm V (trú tại Tổ dân phố A, thị trấn I, C, Gia Lai) nảy sinh quan hệ yêu đương. Vì có quan hệ yêu đương nên từ khoảng tháng 3/2018 đến tháng 9/2018, T và chị V đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau tại thị trấn I, C, Gia Lai dẫn đến chị Lại Thị Cẩm V có thai và sinh cháu Lại Gia L (vào ngày 12/01/2019). Sau khi biết chị V có thai, vào tháng 9/2018, ông Trần Quang T1 (sinh năm 1970), bà Trần Thị H (sinh năm 1974 là bố mẹ của Trần Quang T) và ông Rơ Châm V1 (sinh năm 1970), bà Lại Thị T2 (sinh năm 1971 là bố mẹ của chị Lại Thị Cẩm V) đã tổ chức đám cưới cho T và chị V nhưng không đăng ký kết hôn vì thời điểm đó chị V chưa đủ tuổi để đăng ký kết hôn. Sau khi chị V sinh cháu Lại Gia L thì đến khoảng tháng 5, tháng 6/2019, T và chị V tiếp tục quan hệ tình dục với nhau nhiều lần dẫn đến khoảng tháng 9/2019 thì chị V mang thai lần thứ hai. Đến ngày 02/6/2020, chị V sinh con thứ hai và đặt tên là Lại Gia K. Từ tháng 02/2022, giữa chị V và T xảy ra mâu thuẫn nên chị V đưa con về nhà mẹ đẻ tại Tổ dân phố A, thị trấn I, C sinh sống. Ngày 01/8/2023, chị Lại Thị Cẩm V làm đơn trình báo gửi đến Công an tố giác Trần Quang T có hành vi hiếp dâm chị V khi chị V chưa đủ 16 tuổi. Tuy nhiên quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định việc T và chị V giao cấu là hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ tình cảm yêu đương giữa T với chị V, không có cở sở để xác định việc T có hành vi dùng vũ lực để ép buộc chị V giao cấu với T. Do đó không đủ cơ sở để xử lý T về hành vi “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” như chị V tố giác.
Ngày 21/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định trưng cầu Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định độ tuổi của Trần Quang T và Lại Thị Cẩm V. Tại bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 1969 ngày 29/9/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đã kết luận: Độ tuổi của Trần Quang T tại thời điểm tháng 3/2018 là từ 17 năm 6 tháng đến 20 năm 6 tháng. Tại bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 1970 ngày 29/9/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đã kết luận: Độ tuổi của Lại Thị Cẩm V tại thời điểm tháng 3/2018 là từ 13 năm 6 tháng đến 14 năm 6 tháng
Ngày 01/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định lại trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ C tại Hà Nội giám định lại tuổi của Trần Quang T. Tại bản kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 8943 ngày 18/12/2023 của V2 Bộ C đã kết luận: Độ tuổi của Trần Quang T tại thời điểm tháng 3/2018 là từ 17 năm 09 tháng đến 20 năm 09 tháng.
Ngày 21/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định trưng cầu Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định AND xác định huyết thống. Tại bản kết luận giám định số 1978 ngày 10/10/2023 Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đã kết luận cháu Lại Gia L và Lại Gia K là con đẻ của Lại Thị Cẩm V với Trần Quang T.
Về dân sự: Quá trình điều tra bị can đã tự nguyện giao nộp số tiền 20.000.000 đồng và giai đoạn chuẩn bị xét xử 20.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 16 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Trần Quang T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, d Khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HSST ngày 08/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
-Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm a, d Khoản 02 Điều 145; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Khoản 2 Điều 590 Bộ Luật Dân sự, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của HĐTP TAND tối cao.
+ Xử phạt bị cáo Trần Quang T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Trần Quang T bồi thường tổn thất tinh thần, sức khỏe cho cháu Lại Thị Cẩm V số tiền 40.000.000 đồng. Trong đó số tiền: 20.000.000 đồng bị cáo T tự nguyện nộp tại cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C trong quá trình điều tra và 20.000.000 đồng bị cáo T nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Păh theo biên lai số: 0006014 ngày 07/8/2024.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí; quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định pháp luật.
3. Kháng cáo: Trong thời hạn luật định, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt còn bị hại kháng cáo tăng nặng hình phạt.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
4.1. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
4.2. Bị hại có ý kiến như sau: Giữ nguyên kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tăng nặng hình phạt cho bị cáo.
4.3. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Quang T và kháng cáo của bị hại Lại Thị Cẩm V; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HSST ngày 08/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai
Về án phí phúc thẩm:
Bị cáo Trần Quang T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị hại Lại Thị Cẩm V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
4.4. Người bào chữa cho bị cáo Trần Quang T có ý kiến như sau:
Bị cáo đã giao cấu với người hại khi bị hại chưa đủ 16 tuổi là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, do bị cáo với bị hại cũng xuất phát từ tình cảm yêu thương nhau, nhận thức về pháp luật của bị cáo còn hạn chế, vẫn có phần lỗi của bị hại đã chấp nhận trong một thời gian dài và hành vi của T không còn nguy hiểm cho xã hội nữa và gia đình hai bên đã tổ chức cưới hỏi, cháu V cũng đã về nhà cha mẹ T sinh sống, bị cáo T cũng đã có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc 02 con của mình chứ không bỏ bê, thiếu trách nhiệm nên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS và áp dụng Khoản 1 Điều 54 BLHS cho bị cáo T giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
4.5. Bị cáo không có bổ sung gì với lời bào chữa của luật sư; đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Xuất phát từ tình cảm yêu đương nên bị cáo Trần Quang T và bị hại Lại Thị Cẩm V đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau từ đầu năm 2018 dẫn đến bị hại mang thai và sinh cháu Lại Gia L vào ngày 12/01/2019. Khi gia đình bị cáo và bị hại biết bị hại mang thai thì không trình báo cơ quan có thẩm quyền mà lại tổ chức đám cưới cho bị cáo và bị hại vào tháng 08/2018. Sau khi cưới, vì nghĩ là vợ chồng nên giữa bị cáo và bị hại đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau dẫn đến bị hại tiếp tục sinh cháu Lại Gia K vào ngày 02/6/2020. Căn cứ vào kết luận giám định của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng thì thời điểm bị cáo thực hiện hành vi giao cấu với bị hại vào tháng 3/2018 thì bị hại chỉ từ 13 năm 6 tháng đến 14 năm 6 tháng tuổi.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Quang T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Về kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo kháng cáo cho rằng, lần đầu giao cấu năm 2018 thì giữa bị cáo và bị hại vẫn chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, chỉ đến khi có con thứ 2 thì bị cáo mới đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình, nhưng tại thời điểm này thì quan hệ giữa bị cáo và bị hại đã được gia đình hai bên đồng ý, tổ chức đám cưới nên hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của gia đình hai bên, bị cáo phạm tội lần đầu nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại khoản 2 Điều 51.
Thấy rằng, bị cáo sinh ngày 14/2/1997 tính đến thời điểm lần đầu thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã trên 18 tuổi, căn cứ vào Điều 12 Bộ luật Hình sự thì bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo có trình độ văn hóa 12/12, có đầy đủ năng lực hành vi, hiểu biết về pháp luật, nhận thức việc giao cấu với người chưa đủ 16 tuổi là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên bị cáo cho rằng gia đình hai bên có một phần lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là không có cơ sở, vì tại thời điểm phạm tội năm 2018 bị cáo đã thành niên không thể đỗ lỗi cho gia đình và coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bản thân.
Bị cáo cho rằng bị cáo đã hối cải, làm ăn lương thiện, không phạm tội mới, không trốn tránh sự trừng trị của pháp luật. Do đó, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo thực hiện tại thời điểm xét xử không còn cao so với thời điểm phạm tội. Thấy rằng, khi Tòa án cấp sơ thẩm lượng hình đã căn cứ đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ hình phạt, nhân thân của bị cáo, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả đã gây ra, yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, tuyên bị cáo mức án 4 năm tù chỉ trên mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật, trái đạo đức, đã xâm phạm đến thể chất, tinh thần, sinh lý, sự phát triển bình thường của bị hại Lại Thị Cẩm V. Hành vi của bị cáo gây bức xúc trong dư luận xã hội, gây mất trật tự địa phương. Do đó, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian bằng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo.
[3] Về kháng cáo của bị hại.
Bị hại kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tăng nặng hình phạt cho bị cáo vì khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị hại còn nhỏ, vẫn còn đi học trong suốt quá trình chung sống bị cáo không đối xử tốt với bị hại và con, bỏ mặc ba mẹ con bị hại không quan tâm chăm sóc. Thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo đã bị truy tố, xét xử vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” là phù hợp với hành vi của bị cáo gây ra. Hơn nữa, giữa bị cáo và bị hại có quan hệ tình cảm yêu đương, có tổ chức đám cưới và sống chung với nhau như vợ chồng nên việc bị hại cho rằng bị cáo đối xử không tốt với mẹ con bị hại để tăng nặng hình phạt cho bị hại là không đúng. Vì hành vi của bị cáo đã bị pháp luật trừng trị còn về cách đối xử của bị cáo đối với mẹ con bị hại thuộc phạm trù đạo đức nên không thể căn cứ vào đó để áp dụng hình phạt nặng hơn với bị cáo.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về xin giảm nhẹ hình phạt và kháng cáo tăng nặng hình phạt của bị hại
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Điều luật áp dụng
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Áp dụng điểm a, d khoản 02 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Trần Quang T.
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình của bị cáo Trần Quang T và kháng cáo tăng nặng hình phạt của bị hại Lại Thị Cẩm V. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HSST ngày 08/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
- Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
- Xử phạt bị cáo Trần Quang T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về án phí:
Bị cáo Trần Quang T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Nguyễn Tiến Sỹ |
Bản án số 13/2024/HSPT-CTN ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm (giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
- Số bản án: 13/2024/HSPT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kết hôn sinh hai con, vợ yêu cầu tăng hình phạt
