|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HS-ST
Ngày 19-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lý Quang Minh;
- Ông Ngô Văn Thế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Văn N, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 30/7/1984, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản Nậm Cung, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Văn B, đã chết; mẹ đẻ: Nông Thị T, sinh năm 1962; vợ: Lò Thị T1, sinh năm 1986 (đã ly hôn); bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án số: 18/2022/HS-ST, ngày 25/11/2022, của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Nông Văn N bị xử phạt 01 (Một) năm, 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 26/4/2024, Nông Văn N chấp hành xong hình phạt tù, hiện chưa được xóa án tích. Về nhân thân: Tại Bản án số: 49/2007/HS-ST, ngày 25/7/2007, của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Nông Văn N bị xử phạt 02 (H) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Nông Văn N
Lai Châu, Nông Văn N bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn áp dụng là 24 tháng, hiện Nông Văn N đã chấp hành xong Quyết định và đã đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 30/6/2024, tại khu vực bản H, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, Nông Văn N mua được 02 gói Heroine, của một người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể, hết số tiền 200.000 đồng. Mua được H1, N cầm trên tay rồi đi bộ về nhà. Hồi 12 giờ 00 phút, cùng ngày 30/6/2024, khi Nông Văn N đang đi trên đường B, xã K, huyện P thì bị Công an bắt quả tang. Khi nhìn thấy Công an, Nam cho 02 gói Heroine vào trong miệng định nuốt để tiêu hủy nhưng bị khống chế nên N đã nhả cả 02 gói Heroine trong miêng ra. Vật chứng đã thu giữ là 02 gói ma túy, dạng chất bột màu trắng, đều được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh. Nông Văn N khai nhận chất bột màu trắng là ma túy của N mua về để sử dụng.
Bản Kết luận giám định số: 54/KL-GĐVV, ngày 30/6/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nông Văn N có tổng khối lượng là 0,174 gam. Bản Kết luận giám định số: 877/KL-KTHS, ngày 02/7/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 104/CT-VKS, ngày 17 tháng 10 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Nông Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nông Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn N từ 01 (Một) năm, 05 (Năm) tháng đến 01 (Một) năm, 08 (T2) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh giấy trắng và vỏ niêm phong. Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Nông Văn N đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 12 giờ 00 phút, ngày 30/6/2024, tại đoạn đường thuộc khu vực bản H, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã K và Công an huyện P bắt quả tang Nông Văn N đang tàng trữ trái phép 02 gói chất ma túy, dạng chất bột màu trắng. Nông Văn N khai nhận, số chất bột màu trắng đó là H1 do N mua về để sử dụng. Qua kết quả trưng cầu giám định, xác định được: 02 gói chất bột màu trắng thu giữ của Nông Văn N là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,174 gam.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với người đàn ông bán Heroine trong vụ án này.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
buộc, bị cáo đã được xóa án tích và đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh cho bản thân, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật mà lại tiếp tục phạm tội.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để tiếp tục giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: 02 mảnh nilon màu xanh và vỏ niêm phong là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Gia đình thuộc diện hộ nghèo, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí nên cần miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Nông Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nông Văn N: 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh giấy trắng và vỏ niêm phong.
3. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo TTTP CMT
