TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 19 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Minh Quân
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Việt
- Ông Cầm Văn Tổ
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 18, 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Văn P. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 10/9/1964 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản N, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 04/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn H (đã chết) và bà: Cầm Thị D (đã chết). Bị cáo có vợ là Lò Thị O. Bị cáo có 05 con (lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1996).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Lò Văn H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Bản N, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La (đã chết).
Đại diện hợp pháp cho bị hại:
- - Bà Lò Thị Q, sinh năm 1966. Địa chỉ: Bản N, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- - Anh Lò Văn T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản N, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- - Anh Lò Sơn N, sinh năm 1985. Địa chỉ: Bản N, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- - Chị Lò Thị A M, sinh năm 1991. Địa chỉ: Bản D, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người làm chứng:
- - Anh Lò Văn V, sinh năm 1982. Địa chỉ: Bản N, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- - Anh Tòng Minh T1, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 06/4/2024, Hà Văn P tổ chức ăn cơm tại nhà P và mời người thân đến dự, P uống hết 02 lon bia và khoảng 20 chén rượu trắng. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Lò Văn D1 (cháu của P có ăn cơm tại nhà P) điều khiển xe mô tô (loại xe thồ) một mình từ nhà P theo đường bê tông đi ra đường Q để về nhà đến đoạn đường cong phải (cách nhà P khoảng 200m), do đi nhanh, không làm chủ được tốc độ nên đã điều khiển xe mô tô tự ngã xuống rãnh thoát nước bên trái đường. Cùng lúc này, Lò Văn V trú tại bản Nà Sy, xã H, huyện M điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 26A-0042.29 chở trên xe là Lò Văn H1, Lò Thị Q, Lò Văn T, Lò Sơn N, Hoàng Thị D2, Lò Văn C1, Lò Thị N1 cùng trú tại bản Nà Sy, xã H, huyện M và Kiều Tràng L trú tại tiểu khu N, xã H, huyện M đi tới vị trí D1 bị ngã xe. Thấy D1 bị tai nạn nằm dưới rãnh, V dừng xe ô tô và cùng với Lò Văn H1, Lò Văn T, Lò Sơn N, Lò Văn C1 xuống đưa D1 và xe mô tô lên lề đường. Khi biết D1 là người nhà của Hà Văn P, V gọi điện cho P thông báo việc D1 bị tai nạn. Khoảng 05 phút sau P cùng Hà Anh Q1, Lò Văn C2, Tòng Minh T1 và một số người khác đi đến. Đến nơi P nhìn thấy D1 bị thương đang nằm tại lề đường và cùng chiếc xe mô tô. Lúc này do đã uống rượu P hiểu nhầm xe ô tô của V điều khiển chở gia đình H1 đã gây tai nạn cho D1 nên P nói "chúng mày đâm vào cháu tao à, chúng mày phải ở lại giữ nguyên hiện trường, không ai được đi đâu". Nghe P nói thì H1 nói lại "tao cứu chữa con cháu mày, sao không cảm ơn còn quát, chửi tao à". Phiu tiếp tục nói "chúng mày không được đi đâu, giữ nguyên hiện trường, để Công an đến giải quyết". Do trước đó H1 cũng đã uống rượu, bức xúc việc P đã hiểu nhầm nên H1 lao về phía Phiu đang đứng tại đường bê tông, dùng chân trái đạp 01 nhát trúng vào bụng của P, P co người lại, dùng hai tay đẩy H1 ra và lùi lại phía sau khoảng 01 mét. Hặc vẫn tiếp tục lao đến dùng chân trái đá tiếp 01 nhát trúng vào bộ phận sinh dục của P và giơ tay phải để đấm về phía Phiu. Thấy H1 tiếp tục đánh, P vung tay trái đấm chống trả nhằm đẩy H1 ra theo chiều hướng từ trái qua phải, từ dưới lên trên về phía Hặc thì trúng vào mồm của H1 làm H1 bị ngã ngửa về sau, đầu
đập xuống đường bê tông và ngất đi. Thấy H1 bị ngã xuống đường bê tông, Lò Văn C1 đứng đối diện hét lên “bố ơi người ta đánh ông rồi". Thấy vậy Lò Văn T lao vào dùng tay trái đấm 02 nhát về phía người Phiu thì một nhát trúng vào mồm P và được mọi người can ngăn. Sau đó, gia đình H1 đưa H1 và Lò Văn D1 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh S cấp cứu. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày do bị chấn thương sọ não nặng nên Lò Văn H1 được đưa đến Bệnh viện H2 điều trị. Đến ngày 25/4/2024 H1 được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh S điều trị. Đến ngày 27/5/2024 do vết thương, không thể hồi phục gia đình H1 đưa H1 về nhà chăm sóc. Đến ngày 01/7/2024 H1 tử vong. Ngày 06/4/2024, Lò Văn T đã trình báo Công an xã H, huyện M nội dung vụ việc. Cùng ngày Công an xã H, huyện M báo cáo và chuyển toàn bộ tài liệu liên quan vụ việc đến Công an huyện M để kiểm tra, xác minh theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định nơi Hà Văn P và Lò Văn H1 xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau là đoạn đường bê tông thuộc địa phận bản N, xã H, huyện M. Lòng đường rộng 03 mét, lòng đường bằng phẳng, lề đường phải, trái lần lượt là 0,6 mét và 0,5 mét. Tiếp lề đường trái là rãnh thoát nước rộng 0,9 mét cao 0,6 mét. Quá trình khám nghiệm hiện trường không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể đối với Lò Văn H1 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh S: Bị thương nhẹ bầm tím môi trên, chấn thương vùng chẩm sưng nề, tụ máu dưới màng cứng bán cầu não bên trái dày 07mm, có ổ tụ máu vùng đỉnh bên phải và bên trái, chảy máu rãnh cuộn não bên trái, vỡ xương thái dương bên trái và chẩm đỉnh bên phải. Kết quả xét nghiệm định lượng Ethabol (cồn) trong máu của Lò Văn H1 là 325mg/dl.
Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể Hà Văn P: Tại vị trí môi bên phải có 01 vết bầm dập niêm mạc môi đã đóng vảy, kích thước 1,3cm x 0,8cm. Tại vị trí môi dưới bên phải có 01 vết rách niêm mạc môi kích thước 0,5cm x 0,2cm.
Ngày 18/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ban hành Quyết trưng cầu giám định số 552 đối với Trung tâm pháp y tỉnh S giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe do thương tích gây ra và cơ chế hình thành thương tích đối với Lò Văn H1.
Tại bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể trên người sống số 224/KLTTCT-TTPY ngày 28/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S kết luận: Tổn thương sọ não gây di chứng sống thực vật (xếp 99%) thương tích chấn thương sọ não kín của Lò Văn H1 do tác động trực tiếp của vật tầy cứng, dạng va đập mạnh, diện tiếp xúc giới hạn gây rả”
Ngày 01/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh S tiến hành khám nghiệm tử thi và giám định nguyên nhân chết của Lò Văn H1.
Tại kết luận giám định tử thi số 50/KLGĐTT- TTPY ngày 05/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S kết luận: Nguyên nhân chết suy kiệt sau mổ chấn thương sọ não, khuyết sọ, đụng dập nhu mô não”
Ngày 19/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ban hành Quyết định trưng cầu giám định số về tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe do thương tích gây ra và cơ chế hình thành thương tích đối với Hà Văn P. Tuy nhiên Hà Văn P từ chối giám định.
Bản cáo trạng số 109/CT-VKSMS ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Hà Văn P về tội Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo khoản 3 Điều 136 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 136; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Xử phạt bị cáo Hà Văn P từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 42 tháng đến 60 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo và đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại thỏa thuận mức bồi thường dân sự theo biên bản thỏa thuận ngày 15/7/2024 là 355.000.000VNĐ và hỗ trợ thêm về tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp cho người bị hại theo biên bản thỏa thuận ngày 15/11/2024 là 80.000.000VNĐ. Tổng số tiền 435.000.000VNĐ.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21, điểm a, fkhoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Hà Văn P tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện hợp pháp cho bị hại: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo. Xác nhận đã thỏa thuận và nhận đủ số tiền bồi thường dân sự, không có yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Ngày 06/4/2024 tại khu vực đường bê tông bản Nà Sy, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La, do hiểu nhầm và mâu thuẫn cá nhân Lò Văn H1 đã liên tục dùng chân đạp, dùng tay đấm tấn công Hà Văn P. Trong lúc H1 đánh, tấn công P, P đã đẩy H1 ra, dơ tay đấm về phía Hặc nhằm chống trả lại khiến H1 ngã đập đầu xuống nền bê tông. Hậu quả H1 bị chấn thương sọ não, đến ngày 01/7/2024, Lò Văn H1 tử vong.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 06/4/2024 của Công an huyện M; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 224/KLTTCT-TTPY ngày 28/6/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh S đối với ông Lò Văn H1; Kết luận giám định tử thi số 50/KLGĐTT-TTPY ngày 05/7/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh S đối với ông Lò Văn H1. Phù hợp lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.
Như vậy, việc truy tố bị cáo tại bản Cáo trạng số: 109/CT-VKSMS ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn về tội Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo khoản 3 Điều 136 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, dân sự. Biết hành vi gây thương tích cho người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là vi phạm pháp luật, nhưng do không làm chủ được hành vi khi có mâu thuẫn với bị hại, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Trong vụ án này, bị hại có lỗi khi tấn công liên tiếp vào bị cáo, nhưng thay vì sử dụng các biện pháp chống đỡ phù hợp hoặc tìm cách thoát thân thì bị cáo lại dùng tay đấm trúng vào mồm bị hại dẫn đến bị hại ngã đập đầu xuống nền đất gây ra thương tích cho bị hại dẫn đến chết. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, hoang mang lo lắng trong nhân dân và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có bốn tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại tiền chi phí điều trị, tiền mai táng và tổn thất tinh thần tổng số tiền 435.000.000VNĐ. Đại diện hợp pháp cho người bị hại Lò Văn H1 đã nhận đủ số tiền và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Năm 2019 bị cáo được Ban tặng kỷ niệm chương “Vì giai cấp nông dân Việt Nam”. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Từ sự phân tích trên, căn cứ vào toàn bộ nội dung vụ án và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, gia đình bị cáo làm đơn xin bảo lãnh và xin cho bị cáo được hưởng án treo được chính quyền địa phương xác nhận, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về xử lý vật chứng: Không thu giữ vật chứng.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15/7/2024, bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại tự nguyện thỏa thuận về bồi thường dân sự, bị cáo bồi thường cho gia đình Lò Văn H1 tiền chi phí điều trị, tiền mai táng và tổn thất tinh thần tổng số tiền 355.000.000VNĐ. Ngày 15/11/2024, bị cáo tự nguyện hỗ trợ bồi thường thêm số tiền 80.000.000VNĐ tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp cho người bị hại Lò Văn H1 đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì thêm. Sự thỏa thuận của các bên là tự nguyện nên cần ghi nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q2; Trước khi mở phiên tòa bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại tự thỏa thuận về phần bồi thường dân sự và đề nghị Tòa án ghi nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 136; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hà Văn P phạm tội Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Xử phạt bị cáo Hà Văn P 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (19/11/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về bồi thường dân sự: Ghi nhận việc bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại Lò Văn H1 tự nguyện thỏa thuận mức bồi thường dân sự tổng số tiền là 435.000.000VNĐ. Đại diện hợp pháp cho bị hại đã nhận đủ số tiền trên.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Minh Quân |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA về cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
