Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG NHÉ

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 13/2024/HS-ST

Ngày 15-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Thuy

Ông Sầm Văn Nưỡng

- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam-Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 15/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 30/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 01/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lừu Cù T; Sinh năm 1983 tại xã T, huyện T, tỉnh Điện Biên;

Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: không; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lừu Lao V và bà Hồ Mề Ch; Bị cáo có chồng là Giàng Seo Kh và có 04 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/9/2024 đến ngày 13/9/2024, bị tạm giam từ 13/9/2024 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Văn B, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Giàng Phủ Qu, sinh năm 1970, trú tại: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 09/9/2024, Lừu Cù T một mình đi hái rau về đến đường quốc lộ 4H thuộc bản T, xã M, huyện M thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt, qua trao đổi T mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine được gói trong mảnh nilon trong suốt với giá tiền 50.000 đồng. Sau khi đưa ma túy cho T người đàn ông lạ mặt đi đâu T không biết, còn T cất giấu số ma túy vừa mua được ở trong túi áo bên phải mặc trên người rồi đi bộ quay về nhà. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10/9/2024 khi T đang ở nhà tại bản T, xã M, huyện M thì có

Giàng Phủ Qu đến nhà T chơi, qua trao đổi T bán cho Qu 01 gói nhỏ Heroine với giá 50.000 đồng, T nhận tiền từ Qu và cất tiền vào túi áo bên phải, Qu nhận Heroine từ T và đang cầm gói Heroine ở tay trái thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của Qu 01 gói Heroine có khối lượng 0,06 gam được gói trong mảnh nilon trong suốt, thu giữ của T 50.000 đồng trong túi áo của T. Qu khai nhận số Heroine bị thu giữ là mua của T, mua để sử dụng, T thừa nhận số tiền 50.000 đồng bị thu giữ là tiền bán Heroine cho Qu.

Kết luận giám định số 1479/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Giàng Phủ Qu có khối lượng 0,06 gam chất bột màu trắng, thể rắn là chất ma túy: Loại: Heroine; Không hoàn lại đối tượng giám định.

Kết luận giám định số 1485/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 05 (năm) tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) có số mã hiệu cụ thể: RD 20211719; DM 13166666; TK 17043953; PE 20054416; MO 20314998 gửi giám định là tiền thật. Hoàn lại toàn bộ mẫu vật gửi đến giám định.

Ngày 07/10/2024 Công an huyện Mường Nhé đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC đối với Giàng Phủ Qu, hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng.

Cáo trạng số 63/CT-VKS-MN ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Lừu Cù T để xét xử về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon trong suốt; Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 50.000 đồng; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội và xét đơn đề nghị miễn án phí của bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; phần hình phạt chính đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì

với Luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Giàng Phủ Qu vắng mặt tại phiên tòa, các lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 10/9/2024 Qu mua của bị cáo T 0,06 gam Heroine với giá 50.000 đồng, mua về với mục đích để sử dụng, chưa sử dụng thì bị bắt quả tang. Giàng Phủ Qu đã bị xử phạt hành chính (Quyết định xử phạt số 01/QĐ-XPHC ngày 07/10/2024 của Công an huyện M).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lừu Cù T khai: Khoảng 15 giờ ngày 09/9/2024 bị cáo mua được 01 gói nhỏ Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt ở bản T, xã M, huyện M với giá 50.000 đồng, mua bán xong người đàn ông đi đâu bị cáo không biết. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10/9/2024 bị cáo đang bán cho Giàng Phủ Qu 0,06 gam Heroine với giá tiền 50.000 đồng tại nhà của bị cáo thì bị bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ của Giàng Phủ Qu 0,06 gam Heroine, mục đích Giàng Phủ Qu mua Heroine về sử dụng cho bản thân, thu giữ của bị cáo 50.000 đồng tiền bị cáo bán Heroine cho Giàng Phủ Qu. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hành vi mua bán trái phép 0,06 gam Heroine của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật

Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Người bào chữa đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa.

[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, xác minh tại nơi ở của bị cáo không có tài sản gì có giá trị, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6] Đối với người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.

[7] Đối với Giàng Phủ Qu là người mua 0,06 gam Heroine của bị cáo Lừu Cù T mục đích sử dụng cho bản thân, Giàng Phủ Qu hiện không có tiền án, tiền sự, khối lượng ma túy Qu tàng trữ không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện M đã xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Qu trong vụ án này.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,06 gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định, không hoàn lại hoàn lại mẫu vật sau khi giám định.

Đối với 01 mảnh ni lon trong suốt, xét thấy đây là vật chứng không có giá trị sử dụng cần căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của bị cáo T, xét thấy đây là số tiền mà bị cáo T mua bán trái phép chất ma túy mà có nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[9] Về án phí:

Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết

326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[10] Về quyền kháng cáo:

Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án.

[11] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Lừu Cù T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Lừu Cù T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 10/9/2024.
  2. Về vật chứng vụ án:

    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • Tịch thu, tiêu huỷ 01 mảnh nilon trong suốt.
    • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

  3. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/11/2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV-THA (TAND tỉnh Điện Biên);
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Mường Nhé;
  • - Nhà tạm giữ, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT, bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Mường Nhé;
  • - Chi cục THADS huyện Mường Nhé;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Người có QL và NV liên quan;
  • - Lưu HS, HSTHA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 13/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừu Cù T mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger