|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-11-2024 V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG - TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Ngọc Thanh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Định và Vũ Thị Hà.
- - Thư ký Toà án: Bà Nguyễn Hoàng Bửu – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
Ngày 13/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 05 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bạch H, sinh năm 1978.
- Địa chỉ: 90/44 Trường Chinh, phường Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, có mặt).
- Bị đơn: Ông Dương Ngọc Ph, sinh năm: 1980.
- Địa chỉ: Tổ 3, thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
- Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NHẬN THẤY:
Theo Đơn khởi kiện ngày 03/01/2024, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lê Thị Bạch H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Dương Ngọc Ph kết hôn ngày 09/12/2008 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, tôi yêu cầu ly hôn ông Dương Ngọc Ph, việc ly hôn tôi đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.
Về con chung: Chúng tôi có một con chung là Dương Ngọc H - sinh ngày 06/10/2008, kiện ly hôn con chung là Dương Ngọc H sẽ do tôi nuôi dưỡng và không yêu cầu ông Phong cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Tài sản chung vợ chồng đã tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Ngoài ra, tôi không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên toà hôm nay ông Dương Ngọc Ph vắng mặt, quá trình giải quyết vụ án ông Dương Ngọc Ph có biên bản tự khai đề nghị Toà án giải quyết việc ly hôn, về con chung, về tài sản theo yêu cầu của bà Lê Thị Bạch H. Ngoài ra, ông Phong không đến Toà án làm việc theo giấy triệu tập của Toà án; Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho ông Dương Ngọc Ph; gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập làm việc, Thông báo về các phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa ông Phong đã ký nhận đủ các văn tố tụng trên. Tuy nhiên, ông Phong vẫn cố tình không đến làm việc và tham gia phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cũng như tham gia phiên tòa. Ông Phong cố tình không có ý kiến gì thể hiện chứng kiến về giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Dương Ngọc Ph.
Buộc bà Lê Thị Bạch H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Bạch H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con đối với ông Dương Ngọc Ph, đây là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp nuôi con. ông Dương Ngọc Ph có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Mang Yang thụ lý, giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông Dương Ngọc Ph vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Phong là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Lê Thị Bạch H và ông Dương Ngọc Ph có đăng ký kết hôn ngày 09/12/2008 và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Việc kết hôn của ông bà là tự nguyện, trước khi kết hôn ông bà có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau và có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Vì vậy, hôn nhân của bà Huệ và ông Phong là hôn nhân hợp pháp.
Xét tình trạng hôn nhân giữa bà Lê Thị Bạch H và ông Dương Ngọc Ph thấy rằng: vợ chồng sống với nhau thường xảy ra mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, mặc dù đã nhiều lần hai bên ngồi lại với nhau để tìm tiếng nói chung nhưng quan hệ hôn nhân vẫn không thay đổi. Ông Phong không tham gia hòa giải để đoàn tụ mặc dù đã được Tòa án thông báo, thể hiện ông không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ gia đình. Quan hệ vợ chồng mâu thuẫn đã lâu không ai còn quan tâm, chăm sóc nhau nên khó có thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Bạch H và ông Dương Ngọc Ph đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà Lê Thị Bạch H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai giải quyết cho bà được ly hôn với ông Dương Ngọc Ph là có căn cứ.
[4] Về con chung: Cháu Dương Ngọc H - sinh ngày 06/10/2008, nguyện vọng của bà Huệ nếu được ly hôn xin được nuôi con chung đến khi thành niên. Ông Phong không có ý kiến gì và không đến toà trình bày nguyện vọng quan điểm. Ngày 10/06/2024 cháu Dương Ngọc H, có biên bản tự khai nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu muốn ở với mẹ. Tại phiên tòa, bà Lê Thị Bạch H vẫn có nguyện vọng muốn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hưng, cháu Hưng có nguyện vọng ở với mẹ. Do vậy khi ly hôn cần giao con chung là cháu Dương Ngọc H cho bà Huệ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung bà Huệ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về tài sản chung: Bà Huệ không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về nợ chung: Bà Huệ xác nhận vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng; nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[7] Về án phí: Bà Huệ phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình.
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bạch H được ly hôn với ông Dương Ngọc Ph.
2. Về con chung:
Giao con chung là cháu Dương Ngọc H - sinh ngày 06/10/2008 cho bà Lê Thị Bạch H tiếp tục nuôi dưỡng khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để nuôi mình.
Quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình.
3. Về án phí:
Bà Lê Thị Bạch H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Huệ đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Toà án số: 0012501, ngày 29/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà Huệ đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 13/11/2024), nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết Tại UBND xã và Thị trấn nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa Phạm Ngọc Thanh |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG - TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huệ - Phong: kiện xin ly hôn
