|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/KDTM-ST
Ngày: 09/9/2024
“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phương.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Mạnh Hải và ông Nguyễn Trần Trường.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Quản- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 52/2024/TLST- KDTM ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST- KDTM ngày 30 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội (SHB).
Địa chỉ: Số 77 Trần Hưng Đạo, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị Hà; Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tinh Tiến; chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng SHB- Chi nhánh Bắc Ninh.
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Mạnh Hùng, sinh năm 1977; ông Trịnh Hoàng Hải, sinh năm 1981; ông Nguyễn Ngọc Nguyên, sinh năm 1987. (Theo văn bản ủy quyền lại số: 12/2024/UQL-SHB.BN ngày 05/6/2024). Ông Hùng có mặt.
Bị đơn: Ông Nghiêm Văn Thạo, sinh năm 1985; Vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1990; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Khu phố Mai Động, phường Hương Mạc, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai tại Toà án và lời trình bày tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội trình bày:
Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội (sau đây viết tắt là Ngân hàng SHB) thực hiện cấp tín dụng cho ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền theo Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số: 107/2016/HĐHM-CN/SHB.111000 ngày 19/10/2016 và Khế ước nhận nợ số: 02-107/2016/HĐHM-Cn/SHB.111000 ngày 18/10/2017 với số tiền giải ngân cho ông Thạo, bà Hiền vay là: 400.000.000 đồng; Thời hạn vay là: 12 tháng (từ ngày 18/10/2017 đến ngày 18/10/2018); Mục đích sử dụng: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đồ mỹ nghệ; Lãi suất cho vay trong hạn là: 9,9%/năm áp dụng cho 03 tháng đầu kể từ ngày giải ngân, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay trong hạn được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm giải ngân, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo tối thiểu bằng mức lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn VNĐ kỳ hạn 06 tháng trả lãi cao nhất KHCN của SHB tại thời điểm điều chỉnh cộng với biên độ 3,5%/năm.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số: 558, tờ bản đồ số 01, diện tích 29m² tại địa chỉ: Thôn Mai Động, xã Hương Mạc, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BK436755, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH00300 do UBND thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 09/5/2012 cho ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 1439.2015/HĐTC, quyển số 01/2015/HĐGD ngày 14/4/2015 tại Văn phòng công chứng A7, tỉnh Bắc Ninh và các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung... kèm theo.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng: ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền đã trả được số tiền lãi tính đến ngày 18/10/2018 là: 39.512.183 đồng; tiền phí là: 33.348 đồng và chưa trả được tiền nợ gốc. Do đó, ông Thạo và bà Hiền đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng SHB. Toàn bộ khoản vay trên của ông Thạo, bà Hiền đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 18/10/2018. Từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng SHB đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông Thạo và bà Hiền trả nợ. Tuy nhiên, ông Thạo và bà Hiền không thực hiện.
Ngân hàng SHB khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền phải trả cho Ngân hàng SHB tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 09/9/2024 là: 806.073.954 đồng; trong đó, nợ gốc là: 400.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 2.678.433 đồng; lãi quá hạn 100% là: 267.123.177 đồng; lãi quá hạn 50% là: 133.561.680 đồng và phí khác: 2.710.664 đồng.
Kể từ ngày 10/9/2024 ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền còn phải trả nợ cho SHB số tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo thỏa thuận tại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo cho đến khi ông Thạo và bà Hiền thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
Trường hợp ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền không trả nợ cho SHB theo những yêu cầu trên, ngân hàng SHB được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm trên để thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho ngân hàng SHB và ngân hàng SHB được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xác minh, kê biên tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền để thu hồi nợ cho ngân hàng SHB.
Về án phí và chi phí tố tụng: Ông Thạo, bà Hiền phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản, Ngân hàng tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX vào nghị án là đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Bị đơn là ông Thạo, bà Hiền đều vắng mặt tại phiên tòa và các buổi hòa giải của Tòa án là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng; Nghị định số: 163/NĐ - CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số: 11/2012/NĐ- CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn. Buộc ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội tổng số tiền tính đến hết ngày 09/9/2024 là: 806.073.954 đồng; trong đó, nợ gốc là: 400.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 2.678.433 đồng; lãi quá hạn 100% là: 267.123.177 đồng; lãi quá hạn 50% là: 133.561.680 đồng và phí khác: 2.710.664 đồng.
Kể từ ngày 10/9/2024 ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền còn phải trả nợ cho SHB số tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo thỏa thuận tại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo cho đến khi ông Thạo và bà Hiền thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền phải trả tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký kết giữa hai bên và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật. Ông Thạo, bà Hiền có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể, mục đích vay tiền là để sản xuất kinh doanh đồ gỗ mỹ nghệ nên đây là vụ án kinh doanh thương mại về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về thẩm quyền: Tại thời điểm ký kết Hợp đồng tín dụng, ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền cung cấp địa chỉ là: Thôn Mai Động, xã Hương Mạc, thị xã Từ Sơn (nay là khu phố Mai Động, phường Hương Mạc, thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có thẩm quyền giải quyết vụ án.
- - Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần đến khu phố Mai Động, phường Hương Mạc, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để làm việc và tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Thạo và bà Hiền, nhưng được địa phương cung cấp thông tin: Bà Hiền đã vắng mặt tại địa phương từ năm 2019 đến nay, hiện tại bà Hiền và ông Thạo chưa ly hôn nhưng không chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay. Ông Thạo vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương và có mặt tại địa phương nhưng không hợp tác làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của bà Hiền, ông Thạo. Đồng thời để bảo vệ quyền lợi cho đương sự, Tòa án đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất ngày 22/8/2024 và tiếp tục mở lại phiên tòa vào ngày 09/9/2024. Tuy nhiên, phía bị đơn là ông Thạo, bà Hiền vẫn vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Thạo, bà Hiền.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.1. Yêu cầu thanh toán khoản vay theo Hợp đồng tín dụng:
Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội - Chi nhánh Bắc Ninh có quan hệ tín dụng với bên vay là ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền. Ngày 19 tháng 10 năm 2016 hai bên ký Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số: 107/2016/ HĐHM-CN/SHB.111000 ngày 19/10/2016 và Khế ước nhận nợ số 02- 107/2016/HĐHM- CN/SHB.111000 ngày 18/10/2017 với số tiền cho ông Thạo, bà Hiền vay là: 400.000.000 đồng; Thời hạn vay là: 12 tháng (từ ngày 18/10/2017 đến ngày 18/10/2018); Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đồ mỹ nghệ; Lãi suất cho vay trong hạn là: 9,9%/năm áp dụng cho 03 tháng đầu kể từ ngày giải ngân, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng: ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng SHB nên toàn bộ khoản vay trên bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 18/10/2018. Từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng SHB đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông Thạo và bà Hiền trả nợ. Tuy nhiên, ông Thạo và bà Hiền không thực hiện.
Hội đồng xét xử xét thấy; Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện giao kết hợp đồng, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc ký hợp đồng tín dụng được thực hiện đúng theo trình tự pháp luật về tín dụng ngân hàng. nên hợp đồng này có hiệu lực pháp luật. Ông Thạo, bà Hiền đã được giải ngân đủ số tiền vay là: 400.000.000 đồng nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận với Ngân hàng. HĐXX thấy có đủ căn cứ buộc ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội tổng số tiền tính đến hết ngày 09/9/2024 là: 806.073.954 đồng; trong đó, nợ gốc là: 400.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 2.678.433 đồng; lãi quá hạn 100% là: 267.123.177 đồng; lãi quá hạn 50% là: 133.561.680 đồng và phí khác: 2.710.664 đồng.
Kể từ ngày 10/9/2024, ông Thạo, bà Hiền còn phải tiếp tục chịu các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết cho đến khi ông Thạo, bà Hiền thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng SHB.
2.2. Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
Ngày 14/4/2015, Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội - Chi nhánh Bắc Ninh cùng với ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền co ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 89/2015/HĐTC-CN/SHB.111000, số công chứng: 1439.2015/HĐTC, quyển số: 01/2015/HĐGD và Phụ lục Hợp đồng thế chấp ngày 19/10/2016; số công chứng: 4743.2016/PLHĐTC, quyển số 01/2016; Phụ lục Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 17/10/2017; số công chứng: 5758.2017/PLHĐTC, quyển số 01/2017 tại Văn phòng Công chứng A7- tỉnh Bắc Ninh. Đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 20/5/2014 để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán và trả toàn bộ các khoản nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, tiền bồi thường thiệt hại và các khoản phải trả, nghĩa vụ tài chính khác của ông Thạo, bà Hiền phát sinh theo Hợp đồng cho vay, cấp bảo lãnh, chiết khấu, ứng trước .... các khoản vay trước, trong và sau ngày các bên ký Hợp đồng này và các phụ lục Hợp đồng này nếu có của ông Thạo, bà Hiền tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội.
Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số: 558, tờ bản đồ số 01, diện tích 29m² tại địa chỉ: Thôn Mai Động, xã Hương Mạc, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BK436755, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH00300 do UBND thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 09/5/2012 cho ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền.
Ngân hàng SHB đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trên đây để thu hồi toàn bộ khoản nợ nếu ông Thạo, bà Hiền không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
HĐXX xét thấy: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thì thửa đất số 558, tờ bản đồ số 01, diện tích 29m² nay theo số liệu đo đạc năm 2015 là thửa đất số 112, tờ bản đồ số 64, diện tích 33,7m² (chưa được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Thửa đất có tứ cận như sau:
- Phía Bắc giáp ngõ đi;
- Phía Nam giáp hộ ông Đàm Thế Tình (Hiện là bà Nguyễn Thị Phương đang sử dụng);
- Phía Đông giáp ngõ đi;
- Phía Tây giáp hộ ông Đàm Thế Đồng.
Công trình xây dựng trên đất: Có 01 nhà ở 04 tầng, kết cấu bê tông cốt thép, khung tường chịu lực. Cửa tầng 01 là cửa cuốn. Tường ngoài ốp gạch Granit; Cửa tầng 02 và tầng 03 là pano kính và gỗ. Các cửa còn lại là nhôm kính.
Ngoài ra, Tòa án không xem xét được bên trong ngôi nhà và không tiến hành đo đạc được thửa đất do ông Thạo, bà Hiền mặc dù đã nhận được Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhưng không có mặt ở nhà tại thời điểm Tòa án xem xét thẩm định.
Tòa án đã yêu cầu Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Từ Sơn và UBND phường Hương Mạc cung cấp hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 558, tờ bản đồ số 01, diện tích 29m² và hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ mới (nếu có). Căn cứ theo tài liệu do Tòa án thu thập được về Hồ sơ đất ở được lưu trữ tại UBND phường Hương Mạc, thì thửa đất số 558, tờ bản đồ số 01 lập ngày 17/11/1997 chủ hộ là ông Nghiêm Văn Sinh có số đo các cạnh được cấp theo Giấy chứng nhận QSDĐ lần lượt là: 6,4m; 5,8m; 6,3m và 4,7m. Các cạnh của thửa đất được giữ nguyên, không phát sinh tranh chấp với các hộ liền kề, kể từ khi ông Sinh đã chuyển nhượng thửa đất sang tên cho ông Thạo và bà Hiền. Do đó, ông Thạo, bà Hiền đã được cấp mới Giấy CNQSDĐ vào ngày 09/5/2012.
HĐXX xét thấy; Việc ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Thạo, bà Hiền với Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội là tự nguyện và đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp là tài sản hợp pháp của ông Thạo và bà Hiền nên Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Do đó, nếu ông Thạo, bà Hiền không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ theo quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp được xử lý theo hồ sơ đất ở kèm Bản án này.
Nếu số tiền thu được từ việc phát mại các tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, thì ông Thạo, bà Hiền vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản: Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 322; Điều 323, Điều 408, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015;
Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng; Nghị định số 163/NĐ - CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội.
-
Buộc ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số : 107/2016/HĐHM-CN/SHB.111000 ngày 19/10/2016 và Khế ước nhận nợ số 02-107/2016/HĐHM- CN/SHB.111000 ngày 18/10/2017 tính đến hết ngày 09/9/2024 là: 806.073.954 đồng; trong đó, nợ gốc là: 400.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 2.678.433 đồng; lãi quá hạn 100% là: 267.123.177 đồng; lãi quá hạn 50% là: 133.561.680 đồng và phí khác: 2.710.664 đồng.
Kể từ ngày 10/9/2024, ông Thạo, bà Hiền còn phải tiếp tục chịu các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo cho đến khi thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng SHB.
- Trường hợp ông Thạo, bà Hiền không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ số tiền trên thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số: 558, tờ bản đồ số 01, diện tích 29m² tại địa chỉ: Thôn Mai Động, xã Hương Mạc, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BK436755, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH00300 do UBND thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 09/5/2012 cho ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền.
- Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại các tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, thì ông Thạo, bà Hiền vẫn phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội.
-
Về án phí: Ông Nghiêm Văn Thạo và bà Nguyễn Thị Hiền phải chịu 36.182.000 đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 17.700.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0003795 ngày 26/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
-
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Xuân Phương |
Bản án số 13/2024/KDTM-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 13/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
