TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày: 27-8-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Mạnh Hậu
Ông Phan Tiến Dũng
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Nhà V huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm: 1996 tại Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: Tổ A ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Tiếp viên; Trình độ văn hoá: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Bích P; Chồng: Không có; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015 và con nhỏ nhất sinh năm 2022; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có bốn anh chị em; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 15/11/2023 đến ngày 21/11/2023 hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Ngày 28/12/2023 tiếp tục bị tạm giữ, chuyển tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến nay, (Có mặt).
2. Củ Hưng P1, sinh năm: 1989 tại Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: Số nhà A, khu phố C, ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cử P và bà Trần Thị M; Vợ và con: Chưa có; Bị cáo là thứ năm trong gia đình có năm chị em; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 26/7/2022 bị Tòa án huyện Đ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/11/2023; Bị bắt tạm giữ ngày 28/12/2023, chuyển tạm giam ngày 05/01/2024 đến nay, (Có mặt).
3. Nguyễn Tấn L, sinh năm: 2003 tại Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không có và bà Nguyễn Ngọc H; V và con: Chưa có; Bị cáo là thứ nhất trong gia đình có hai anh em; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 28/12/2023, chuyển tạm giam ngày 05/01/2024 đến nay, (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Danh Hoàng A, sinh năm: 2000 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Bà Trịnh Thị L1, sinh năm: 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Người làm chứng:
- Ông Đỗ Hoàng T1, sinh năm: 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Bà Phan Thị Phương T2, sinh năm: 1998 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Ông Nguyễn Anh T3, sinh năm: 2001 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Ông Trần Hoàng T4, sinh năm: 2002 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 14/11/2023, Đồn Công an B phát hiện và thu giữ trên người Nguyễn Trí T5 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể trong suốt. Làm việc với cơ quan công an, T5 khai nhận cùng Huỳnh Thanh M1 góp tiền mua ma túy loại hàng “đá” của Nguyễn Thị Quỳnh N với giá 1.000.000đồng để sử dụng (BLĐT: 164).
Tại Kết luận giám định số 470/KL-KTHS-MT ngày 21/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu gửi đến giám định có khối lượng 0,0631 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (BLĐT: 160).
Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Trí T5 và Huỳnh Thanh M1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Quỳnh N; Tổ chức khám nghiệm hiện trường phòng hát Karaoke và khám xét phòng ở của Nguyễn Thị Quỳnh N tại quán N3 thuộc Khu dân cư S, huyện C, thu giữ vật chứng gồm: Số tiền 1.000.000đồng; 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs max màu trắng; 01 (một) nắp nhựa màu đỏ, được đục hai lỗ để gắn 01 (một) ống thủy tinh dài 12 cm, có một đầu dạng hình tròn; một lỗ gắn một ống hút nhựa màu tím dài khoảng 19 cm; 01 (một) nắp nhựa màu trắng, được đục hai lỗ, trong đó có một lỗ được gắn một ống thủy tinh dài khoảng 10 cm, có một đầu ống dạng hình tròn (BLĐT: 59, 168).
Tại Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra, Nguyễn Thị Quỳnh N khai nhận nguồn gốc số ma túy là do mua của một người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân lai lịch) tại Cảng T - huyện T, tỉnh Sóc Trăng vào sáng ngày 13/11/2023 với giá 2.000.000đồng. Như mang theo ma túy, đi tàu ra đảo và về quán Ngọc H chia ma túy làm 05 phần, trong đó: 04 phần được để vào 04 (bốn) ống hút nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, phần còn lại Như để trong bịch nilon để sử dụng dần. Ngoài lần bán ma túy trên, trong khoảng thời gian từ ngày 13/11/2023 đến ngày 14/11/2023, Nguyễn Thị Quỳnh N đã 03 lần bán trái phép chất ma túy cho 03 người với tổng số tiền 2.000.000đồng, cụ thể:
- Lần 1: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 13/11/2023, Đỗ Hoàng T1 sử dụng số điện thoại 0964.303.xxx của mình gọi cho số 0378715185 của Nguyễn Thị Quỳnh N hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy và N đồng ý hẹn địa điểm mua bán tại Cảng T thuộc Khu dân cư S, huyện C. T1 tới điểm hẹn gặp N nhận một tép ma túy được đựng trong ống hút nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, T1 trả cho Như 1.000.000đồng. Hiện số ma túy T1 đã sử dụng hết.
- Lần 2: Vào khoảng 19 giờ ngày 13/11/2023, Phan Thị Phương T2 liên lạc qua mạng xã hội “Zalo” với Nguyễn Thị Quỳnh N hỏi mua 700.000đồng tiền ma túy và N đồng ý. Như hẹn T2 tại phòng 202 Khách sạn T6 thuộc Khu dân cư S, huyện C. T2 tới phòng 202 đưa cho Như 700.000đồng và nhận một tép ma túy được đựng trong ống hút nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu. Hiện số ma túy T2 đã sử dụng hết.
- Lần 3: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 14/11/2023, Nguyễn Anh T3 sử dụng số điện thoại 0937.652.xxx của mình gọi cho số 0378715185 của Nguyễn Thị Quỳnh N hỏi mua 300.000đồng tiền ma túy và N đồng ý. Như hẹn T3 tại phòng 202 Khách sạn T6 thuộc Khu dân cư S, huyện C. Tại đây, N đưa cho T3 bịch nilon, kích thước 05x05cm, bên trong có ma túy đá, T3 đưa cho Như 300.000đồng. Hiện số ma túy T3 đã sử dụng hết (BLĐT: 215 - 220; 228 - 232).
Ngày 23/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Quỳnh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Như do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
Trong thời gian bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, Nguyễn Thị Quỳnh N lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể:
Khoảng cuối tháng 11/2023, Nguyễn Thị Quỳnh N kết bạn qua mạng xã hội Facebook với Củ Hưng Phu. Như và P1 đều biết hoàn cảnh của nhau (P1 mới chấp hành xong án phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, N mới bị khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”), cả hai đều sử dụng chất ma túy nên hẹn nhau khi nào Phu ra huyện C chơi thì mang ma túy ra cùng sử dụng. Ngày 26/12/2023, Như hướng dẫn Phu cách đặt vé tàu xe ra huyện C và dặn Phu nhớ mang ma túy ra để sử dụng. Khoảng 17 giờ ngày 26/12/2023, P1 mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 500.000đồng của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, P1 mang theo ma túy, đón xe tới Cảng T (tỉnh Sóc Trăng). Sáng ngày 27/12/2023, P1 đi tàu cao tốc ra huyện C. Khoảng 10 giờ ngày 27/12/2023, tàu cập cảng B, Như hướng dẫn Phu đón xe đi về phòng trọ của Như tại đường N thuộc Khu dân cư S, huyện C. Khoảng 10 giờ 20 phút, khi về đến phòng trọ của N, P1 lấy gói ma túy ra để cùng Như sử dụng. Như lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ), P1 lấy một ít ma túy bỏ vào nỏ, N và Phu đốt ma túy và thay nhau hút. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Như nhắn tin cho Nguyễn Tấn L rủ lên phòng trọ của Như chơi ma túy đá và nhờ L mua cơm cho P1. L mua cơm tới nơi thì P1 rủ L chơi ma túy và dùng quẹt đốt ma túy để ba người cùng sử dụng ma túy. Sau khi cả ba sử dụng ma túy xong, P1 để gói ma túy còn lại dưới nệm ngay chỗ N nằm ngủ rồi đi nhậu với L, Như đi làm. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đi làm về, Như lấy gói ma túy của P1, Như chia làm 03 phần và cất dấu nhằm bán lại cho các con nghiện kiếm lời: 01 phần Như để nguyên trong gói ma túy ban đầu của P1, hàn kín lại; 02 phần còn lại Như cho vào hai đoạn ống hút nhựa màu trắng (một cái nhỏ, một cái lớn), Như quấn giấy thiếc bên ngoài, cất giấu trong nhà vệ sinh.
Đến 18 giờ 00 phút cùng ngày, Trần Hoàng T4 nhắn tin nhờ Danh Hoàng A mua dùm 1.000.000đồng ma túy đá để sử dụng, Anh đồng ý mua với mục đích sẽ cắt bớt lại một phần để sử dụng và hẹn T4 lấy tiền tại phòng trọ của T4. Anh gọi điện cho Nguyễn Thị Quỳnh N hỏi mua 1.000.000đồng ma túy đá và N đồng ý bán. Khoảng 18 giờ 40 phút, Anh điều khiển xe mô tô hiệu Vision màu đỏ, BKS: 72L1 - 015.71 đến khu vực trước quán C trên đường N thuộc Khu dân cư S, huyện C gặp T4 lấy 1.000.000đồng rồi sử dụng điện thoại di động (số thuê bao 0964917124) gọi đến số điện thoại 0332.021.xxx của Như hỏi mua ma túy. Như đồng ý, nói Anh ra phía sau Trung tâm quân dân y chờ, có người mang ma túy tới giao. Lúc này, N, P1 và L đang uống cà phê tại quán Đảo N1 tại Khu dân cư S, huyện C. Như chỉ chỗ cất giấu ma túy trong nhà vệ sinh cho L và nói L chạy xe về phòng trọ lấy ma túy (cái nhỏ) đi giao. L điều khiển xe mô tô hiệu Vision màu đỏ, BKS: 72L1 - 036.48 về phòng trọ của Như, vào nhà vệ sinh lấy đoạn ống hút nhỏ đựng ma túy bỏ vào vỏ bao thuốc lá JET cất giấu trong túi áo khoác. L hỏi Như địa điểm giao ma túy thì N nói ở phía sau Trung tâm Quân dân y huyện C. Khoảng 19 giờ 10 phút, L mang theo ma túy, điều khiển xe đi đến đường P, sau Trung tâm quân dân y giao cho Danh Hoàng A một gói thuốc JET có chứa đoạn ống hút nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy, A đưa cho L 1.000.000 đồng. L đưa lại cho Như 500.000 đồng tiền bán ma túy và mượn Như 500.000 đồng. Nhận ma túy xong, do T4 hối thúc nên Danh Hoàng A không kịp cắt lại 01 phần ma túy mà giao toàn bộ số ma túy mới mua được cho Trần Hoàng T4 tại đường vào phòng trọ của T4 bên hông quán C. T4 mang theo ma túy, mượn xe của Anh chạy ra đường N hướng về Nghĩa trang H1 thì bị Lực lượng tuần tra của Công an huyện C phát hiện, lập biên bản và thu giữ vật chứng: 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể trong suốt - Mẫu A1 và 01 xe máy hiệu Vision, màu đỏ, BKS: 72L1 - 015.71.
Ngoài ra, khoảng 20 giờ 30 ngày 13/11/2023, tại Khu dân cư S, huyện C, Như còn 01 lần bán ma túy cho Danh Hoàng A với giá 1.000.000đồng (Anh mua ma túy giúp Trần Hoàng T4) (BLĐT: 166).
Ngày 27/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Danh Hoàng A và thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, số sêri: R58T31EMKXN, gắn sim số: 0964917124 (BLĐT: 143).
Trên cơ sở lời khai của Danh Hoàng A, ngày 28/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Quỳnh N, Nguyễn Tấn L, Củ Hưng P1 và thu giữ vật chứng: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A57, màu đen, số sêri: ZPVKWG6SHIPZMJPR, gắn sim số 03322021800; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52s 5G, màu xanh, số sêri: R5CT41PJ4CM, gắn sim 1: 0372882431, sim 2: 0333102510; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, màu đỏ, BKS: 72L1 - 036.48, số máy: JK03E0214811, số khung: RLHJK0336PY 008636; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số sêri: F2LSTCGPHFYJ, gắn sim số: 0986728378 (BLĐT: 60, 101a, 132).
Đồng thời ngày 28/12/2023, tiến hành khám xét phòng trọ của Nguyễn Thị Quỳnh N tại Khu dân cư S, huyện C, thu giữ: 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể trong suốt - Mẫu A2; 01 (một) túi ni lông màu trắng, được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt - Mẫu A3 (BLĐT: 170).
Tại Kết luận giám định số 81/KL-KTHS-MT ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu A1 có khối lượng 0,0603 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu A2 có khối lượng 0,0588 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu A3 có khối lượng 0,0767 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (BLĐT: 161).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
- Vật chứng đã xử lý: Đối với xe mô tô hiệu Honda, loại xe VISION, màu đỏ, BKS: 72L1 - 015.71, số máy: JF66E0148066, số khung: 5811GY148943 và xe mô tô hiệu Honda, loại xe VISION, màu đỏ, BKS: 72L1 - 036.48, số máy: JK03E0214811, số khung: RLHJK0336PY 008636: Qua điều tra xác định là tài sản do bà Trịnh Thị L1 sở hữu. Bà L1 cho Danh Hoàng A mượn xe mô tô BKS: 72L1 - 015.71, cho Nguyễn Thị Quỳnh N mượn xe mô tô BKS: 72L1 - 036.48 làm phương tiện đi lại. Việc Như sử dụng xe đi mua bán trái phép chất ma túy; Hoàng A lấy xe đi mua ma túy và đưa xe cho Trần Hoàng T4 mượn bà L1 không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại 02 (hai) chiếc xe trên cho bà Trịnh Thị L1 (BLĐT:14, 180).
- Vật chứng còn lại hiện đang tạm giữ:
- + Số tiền 1.500.000 đồng;
- + 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs max màu trắng;
- + 01 (một) nắp nhựa màu đỏ, được đục hai lỗ để gắn 01 (một) ống thủy tinh dài 12 cm, có một đầu dạng hình tròn; một lỗ gắn một ống hút nhựa màu tím dài khoảng 19 cm;
- + 01 (một) nắp nhựa màu trắng, được đục hai lỗ, trong đó có một lỗ được gắn một ống thủy tinh dài khoảng 10 cm, có một đầu ống dạng hình tròn;
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A57, màu đen, số sêri: ZPVKWG6SHIPZMJPR, gắn sim số 03322021800;
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52s 5G, màu xanh, số sêri: R5CT41PJ4CM, gắn sim 1: 0372882431, sim 2: 0333102510;
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, số sêri: R58T31EMKXN, gắn sim số: 0964917124;
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số sêri: F2LSTCGPHFYJ, gắn sim số: 0986728378;
- + 01 (một) phong bì được niêm phong, kèm theo Kết luận giám định số 470/KL-KTHS-MT ngày 21/11/2023, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định;
- + 02 (hai) phong bì được niêm phong, kèm theo Kết luận giám định số 81/KL-KTHS-MT ngày 02/01/2024, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
* Đối với Củ Hưng P1: Quá trình điều tra xác định, P1 đem ma túy ra huyện C với mục đích cùng N sử dụng, khi Như phân nhỏ ma túy đem bán, P1 không biết nên không có cơ sở để xử lý đối với Củ Hưng P1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm. (BL: 226, 252 -255).
* Đối với người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân lai lịch) ở Cảng T - Sóc Trăng, đã bán ma tuý cho Như: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ, khi có kết quả sẽ xử lý sau (BLĐT: 323).
* Đối với người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho Củ H tại ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai: Do Phu không nhớ đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không có căn cứ xem xét xử lý.
* Đối với Danh Hoàng A và Trần Hoàng T4: Quá trình điều tra xác định T4 nhờ Anh mua ma túy để sử dụng, Anh liên lạc với Nguyễn Thị Quỳnh N mua giúp T4 ma túy với mục đích được T4 cho sử dụng. Do đó hành vi của Danh Hoàng A không có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Khối lượng ma túy Danh Hoàng A mua giúp Trần Hoàng T4 là 0,0603gam, loại Methamphetamine không đủ định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Công an huyện C căn cứ Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Danh Hoàng A và Trần Hoàng T4, mức phạt tiền là 3.500.000đồng/ 01 người là có căn cứ, đúng pháp luật (BLĐT: 298a, 298b, 307, 308).
* Đối với Huỳnh Thanh M1 và Nguyễn Trí T5: Là người mua trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị Quỳnh N, có khối lượng 0,0631gam, loại Methamphetamine để sử dụng. Khối lượng ma tuý M1 và T5 tàng trữ chưa đủ định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Công an huyện C căn cứ Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Huỳnh Thanh M1 và Nguyễn Trí T5, mức phạt tiền là 3.500.000đồng/ 01 người (BLĐT: 274, 280).
* Đối với Đỗ Hoàng T1, Phan Thị Phương T2, Nguyễn Anh T3: Là những người đã mua ma túy của Nguyễn Thị Quỳnh N về sử dụng. Do ma túy đã sử dụng hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo căn cứ Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1, T2, T3 mức phạt tiền 1.500.000đồng/ 01 người. Hiện có T1 và T3 đã nộp phạt (BLĐT: 287, 288, 290, 294, 295).
* Đối với bà Nguyễn Yến V1 là chủ nhà trọ nơi Nguyễn Thị Quỳnh N thuê: Ngày 27/12/2023, Củ Hưng P1 mang ma túy đến và cùng Nguyễn Thị Quỳnh N tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì bà V1 không biết sự việc. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý (BLĐT: 322).
* Đối với bà Nguyễn Ngọc H là chủ quán N3: Ngày 14/11/2023, Như bán trái phép chất ma tuý thì bà H không biết sự việc. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý (BLĐT: 319).
* Đối với Triệu Thị Thu N2 là chủ khách sạn T6: Ngày 13 và 14/11/2023, Như 02 lần bán trái phép chất ma tuý thì bà N2 không biết sự việc. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý (BLĐT: 320).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 13/CT-VKSCĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố Nguyễn Thị Quỳnh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Củ Hưng P1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Tấn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s, r Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội từ 15 (mười lăm) năm đến 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tiếp tục bị bắt tạm giữ là ngày 28/12/2023 nhưng được trừ 07 ngày tạm giữ trước đó (từ ngày 15/11/2023 đến ngày 21/11/2023).
- Tuyên bố: Bị cáo Củ Hưng P1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Củ Hưng P1 mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng c Khoản 1 Điều 249; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Củ Hưng P mức án từ 02 (năm) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội từ 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng đến 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn L mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong, kèm theo Kết luận giám định số 470/KL-KTHS-MT ngày 21/11/2023, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định và 02 (hai) phong bì được niêm phong, kèm theo Kết luận giám định số 81/KL-KTHS-MT ngày 02/01/2024, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định; Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng); 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs max màu trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A57, màu đen, số sêri: ZPVKWG6SHIPZMJPR, gắn sim số 03322021800; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52s 5G, màu xanh, số sêri: R5CT41PJ4CM, gắn sim 1: 0372882431, sim 2: 0333102510 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số sêri: F2LSTCGPHFYJ, gắn sim số: 0986728378; Hoàn trả lại cho D (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen,
số sêri: R58T31EMKXN, gắn sim số: 0964917124; Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nắp nhựa màu đỏ, được đục hai lỗ để gắn 01 (một) ống thủy tinh dài 12 cm, có một đầu dạng hình tròn; một lỗ gắn một ống hút nhựa màu tím dài khoảng 19 cm và 01 (một) nắp nhựa màu trắng, được đục hai lỗ, trong đó có một lỗ được gắn một ống thủy tinh dài khoảng 10 cm, có một đầu ống dạng hình tròn.
+ Tại phiên tòa, bị cáo N khai nhận trong 06 lần bán ma túy, bị cáo đã thu lợi bất chính số tiền 2.000.000đồng, hiện bị cáo đã tiêu xài hết, không có khả năng khắc phục khi thi hành án. Do vậy, đề nghị không tuyên buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 2.000.000đồng để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và các bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:
[2.1] Trong khoảng thời gian từ 13/11/2023 đến ngày 14/11/2023, trên địa bàn huyện C, bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N đã 05 (năm) lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Đỗ Hoàng T1, Phan Thị Phương T2, Danh Hoàng A (Trần Hoàng T4 nhờ Danh Hoàng A mua dùm), Nguyễn Anh T3 và Nguyễn Trí T5.
Sau khi bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo N tiếp tục thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 27/12/2024, tại khu vực cổng sau Trung tâm Quân dân y huyện C thuộc đường P, khu dân cư S, huyện C, bị cáo bán cho Danh Hoàng A (Anh mua ma túy giúp Trần Hoàng T4) một tép ma túy đựng trong đoạn ống nhựa, được hàn kín với giá 1.000.000đồng - ở lần bán ma túy này, bị cáo Nguyễn Tấn L là người trực tiếp đi giao ma túy và thu tiền về cho bị cáo N.
Ngoài ra, vào khoảng 10 giờ 20 phút ngày 27/12/2023, bị cáo sử dụng phòng trọ của mình đồng thời cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho các bị cáo Củ Hưng P1 và Nguyễn Tấn L cùng sử dụng trái phép chất ma túy.
Hành vi của bị cáo N 06 lần bán trái phép chất ma túy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo N đã có hành vi khởi xướng rủ rê bị cáo P1 và bị cáo L; cung cấp địa điểm, bộ dụng cụ để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[2.2] Vào ngày 27/12/2023, tại phòng trọ của bị cáo Như bị cáo P1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1958 gam ma túy, loại Methamphetamin nhằm mục đích để sử dụng. Trước đó, bị cáo P1 đã có hành vi cung cấp chất ma túy (loại Methamphetamin) để tổ chức cho bị cáo N và bị cáo L cùng nhau sử dụng. Hành vi của bị cáo P1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[2.3] Vào ngày 27/12/2023, bị cáo Nguyễn Tấn L đã có hành vi giúp sức cho bị cáo N bán 01 (một) tép ma túy cho Danh Hoàng A (A mua giúp Trần Hoàng T4) với giá 1.000.000đồng. Hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[2.4] Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố từng bị cáo với tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất độc hại, gây nghiện, người sử dụng sẽ ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân phát sinh của các loại tội phạm khác. Trong vụ án này, bị cáo N và bị cáo L vì hám lợi mà đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo P1 đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và cùng bị cáo N có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật.
[4] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ giữa các bị cáo.
- Đối với nhóm các bị cáo thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” thì thấy: Bị cáo N là người trực tiếp mua ma túy, chia nhỏ, cất giấu và bán cho các con nghiện kiếm lời. Bị cáo đã bị khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trong thời gian này bị cáo lại tiếp tục liên lạc với bị cáo P1 để mua ma túy mang ra huyện C nhằm mục đích để sử dụng và bán cho các con nghiện kiếm lời. Bị cáo L biết bị cáo N bán ma túy nhưng vẫn đồng ý giúp sức đi giao ma túy cho Danh Hoàng A và thu tiền về giao cho bị cáo N.
- Đối với nhóm các bị cáo thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”: Bị cáo N là người khởi xướng rủ rê các bị cáo khác, cung cấp địa điểm, bộ D1 sử dụng ma túy để tổ chức cho bị cáo P1 và bị cáo L sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo P1 là người hưởng ứng tích cực, trực tiếp mua ma túy và cung cấp ma túy để tổ chức cho bị cáo N và bị cáo L cùng sử dụng.
- Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Bị cáo P1 thực hiện hành vi phạm tội độc lập nên bị cáo phải chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện.
Như vậy, bị cáo N có vai trò chính, tiếp đến là bị cáo P1 và sau cùng bị cáo L.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân và hình thức xử lý đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo N và bị cáo L không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo P1 đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo N khi bị bắt đã chủ động khai báo hành vi phạm tội của mình trước đó nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự thú” theo quy định tại điểm r Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về nhân thân: Các bị cáo N và L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo P1 có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thấy cần phải cách ly tất cả các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp, tương xứng với vai trò, hành vi của mỗi bị cáo thì mới đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm đặc biệt là các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay và giáo dục, cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong, kèm theo Kết luận giám định số 470/KL-KTHS-MT ngày 21/11/2023, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định và 02 (hai) phong bì được niêm phong, kèm theo Kết luận giám định số 81/KL-KTHS-MT ngày 02/01/2024, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) là tiền bán ma túy; 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs max màu trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A57, màu đen, số sêri: ZPVKWG6SHIPZMJPR, gắn sim số 03322021800; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52s 5G, màu xanh, số sêri: R5CT41PJ4CM, gắn sim 1: 0372882431, sim 2: 0333102510 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số sêri: F2LSTCGPHFYJ, gắn sim số: 0986728378 là vật chứng có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) nắp nhựa màu đỏ, được đục hai lỗ để gắn 01 (một) ống thủy tinh dài 12 cm, có một đầu dạng hình tròn; một lỗ gắn một ống hút nhựa màu tím dài khoảng 19 cm và 01 (một) nắp nhựa màu trắng, được đục hai lỗ, trong đó có một lỗ được gắn một ống thủy tinh dài khoảng 10 cm, có một đầu ống dạng hình tròn là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, số sêri: R58T31EMKXN, gắn sim số: 0964917124 thu giữ của D không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho Hoàng A.
- Đối với số tiền thu lợi bất chính: Tại phiên tòa, bị cáo N khai nhận trong 06 lần bán ma túy, bị cáo đã thu lợi bất chính số tiền 2.000.000đồng, hiện bị cáo đã tiêu xài hết, không có khả năng khắc phục khi thi hành án. Qua xem xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo, xét thấy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không tuyên buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 2.000.000đồng để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
[8] Về các vấn đề khác:
- Đối với Củ Hưng P1: Quá trình điều tra xác định, P1 đem ma túy ra huyện C với mục đích cùng N sử dụng, khi Như phân nhỏ ma túy đem bán, P1 không biết nên không có cơ sở để xử lý đối với Củ Hưng P1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm.
- Đối với người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân lai lịch) ở Cảng T - Sóc Trăng, đã bán ma tuý cho Như: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ, khi có kết quả sẽ xử lý sau.
Đối với người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho Củ H tại ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai: Do Phu không nhớ đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không có căn cứ xem xét xử lý.
- Đối với Danh Hoàng A và Trần Hoàng T4: Quá trình điều tra xác định T4 nhờ Anh mua ma túy để sử dụng, Anh liên lạc với Nguyễn Thị Quỳnh N mua giúp T4 ma túy với mục đích được T4 cho sử dụng. Do đó hành vi của Danh Hoàng A không có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Khối lượng ma túy Danh Hoàng A mua giúp Trần Hoàng T4 là 0,0603gam, loại Methamphetamine không đủ định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Công an huyện C căn cứ Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Danh Hoàng A và Trần Hoàng T4, mức phạt tiền là 3.500.000đồng/ 01 người.
Đối với Huỳnh Thanh M1 và Nguyễn Trí T5: Là người mua trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị Quỳnh N, có khối lượng 0,0631gam, loại Methamphetamine để sử dụng. Khối lượng ma tuý M1 và T5 tàng trữ chưa đủ định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Công an huyện C căn cứ Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Huỳnh Thanh M1 và Nguyễn Trí T5, mức phạt tiền là 3.500.000đồng/ 01 người.
- Đối với Đỗ Hoàng T1, Phan Thị Phương T2, Nguyễn Anh T3: Là những người đã mua ma túy của Nguyễn Thị Quỳnh N về sử dụng. Do ma túy đã sử dụng hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo căn cứ Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1, T2, T3 mức phạt tiền 1.500.000đồng/ 01 người. Hiện có T1 và T3 đã nộp phạt.
- Đối với bà Nguyễn Yến V1 là chủ nhà trọ nơi Nguyễn Thị Quỳnh N thuê: Ngày 27/12/2023, Củ Hưng P1 mang ma túy đến và cùng Nguyễn Thị Quỳnh N tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì bà V1 không biết sự việc. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý là đúng quy định.
- Đối với bà Nguyễn Ngọc H là chủ quán N3: Ngày 14/11/2023, Như bán trái phép chất ma tuý thì bà H không biết sự việc. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý là đúng quy định.
- Đối với Triệu Thị Thu N2 là chủ khách sạn T6: Ngày 13 và 14/11/2023, Như 02 lần bán trái phép chất ma tuý thì bà N2 không biết sự việc. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét xử lý là đúng quy định.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm s, r Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình chung cho cả hai tội là 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tiếp tục bị bắt tạm giữ là ngày 28/12/2023 nhưng được trừ 07 ngày tạm giữ trước đó (từ ngày 15/11/2023 đến ngày 21/11/2023).
- Tuyên bố: Bị cáo Củ Hưng P1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Củ Hưng P1 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm h Khoản 1 Điều 52; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Củ Hưng P1 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 28/12/2023.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 28/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong, kèm theo Kết luận giám định số 470/KL-KTHS-MT ngày 21/11/2023, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định và 02 (hai) phong bì được niêm phong, kèm theo Kết luận giám định số 81/KL-KTHS-MT ngày 02/01/2024, mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng); 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs max màu trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A57, màu đen, số sêri: ZPVKWG6SHIPZMJPR, gắn sim số 03322021800; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52s 5G, màu xanh, số sêri: R5CT41PJ4CM, gắn sim 1: 0372882431, sim 2: 0333102510 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số sêri: F2LSTCGPHFYJ, gắn sim số: 0986728378.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nắp nhựa màu đỏ, được đục hai lỗ để gắn 01 (một) ống thủy tinh dài 12 cm, có một đầu dạng hình tròn; một lỗ gắn một ống hút nhựa màu tím dài khoảng 19 cm và 01 (một) nắp nhựa màu trắng, được đục hai lỗ, trong đó có một lỗ được gắn một ống thủy tinh dài khoảng 10 cm, có một đầu ống dạng hình tròn.
- Hoàn trả lại cho Danh Hoàng A 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, số sêri: R58T31EMKXN, gắn sim số: 0964917124.
(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/62024 và Biên lai thu tiền số 0003290 ngày 20/6/2024).
- Đối với số tiền thu lợi bất chính: Bị cáo Như không phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) để tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Thị Quỳnh N, Củ Hưng P1 và Nguyễn Tấn L mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Dung |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Quỳnh N 255
