TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HNGĐ-PT Ngày: 21-5-2024 V/v tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Ngày 14 và 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số 04/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 03/2024/QĐ-PT ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mộng K, sinh năm 1981
Địa chỉ: số C, đường N, khu phố Q, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Quốc H, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Trương Vĩnh P, sinh năm: 1985
Địa chỉ: Thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận
Tại phiên tòa, có mặt bà Võ Thị Mộng K, ông Mai Quốc H và ông Trương Vĩnh P. Các đương sự vắng mặt khi tuyên án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 4 năm 2022 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị Mộng K trình bày:
Bà và ông Trương Vĩnh P là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 57/2017 ngày 11/12/2017.
Ngày 22/7/2019, bà và ông Trương Vĩnh P tự nguyện ly hôn theo quyết định của Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Tại quyết định ly hôn số 492/2019/QĐST-HNGĐ, về tài sản chung tự thỏa thuận.
Tài sản chung bao gồm: Quyền sử dụng đất hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng thực tế là tiền mua đất và chuyển mục đích là tiền riêng của bà, cụ thể: Quyền sử dụng thửa đất số 1216, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 650558 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/02/2018 đứng tên Trương Vĩnh P.
Nay bà yêu cầu chia 60% diện tích đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
Ngoài ra trong thời kỳ hôn nhân, bà có mua 10 container để sử dụng làm nhà nghỉ, sau khi ly hôn ông P đã chiếm đoạt và sử dụng. Đây là tài sản có trong thời kỳ hôn nhân nhưng là tiền riêng của bà, nay bà yêu cầu ông P phải trả cho bà 700.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà không yêu cầu ông P khoản tiền này.
Đối với yêu cầu phản tố của ông P bà không đồng ý chấp nhận vì ông P phản tố không đúng sự thật.
* Ý kiến của bị đơn ông Trương Vĩnh P trình bày:
Ông thừa nhận, ông và bà Võ Thị Mộng K là vợ chồng đã ly hôn theo Quyết định số 492/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 22/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Trong quyết định, phần tài sản chung hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay bà Võ Thị Mộng K yêu cầu ông chia tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 1216, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 650558 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/02/2018. Ông xác định đây là tài sản có nguồn gốc của mẹ ông là bà Phạm Thị T1 mua lại của bà Lê Thị T và cho ông đứng tên để thế chấp ngân hàng lấy vốn làm ăn. Toàn bộ quá trình hình thành, phát huy và gìn giữ là công sức của mẹ con ông không liên quan gì đến bà K, bà K không có công đóng góp vì vậy bà K đòi chia tài sản này là không hợp lý. Tuy nhiên, sau khi ông và bà K ly hôn, năm 2020 bà K đòi chia tài sản này và hai bên thống nhất giá của thửa đất là 1.500.000.000 đồng, bà K yêu cầu chia đôi. Vì ông muốn êm xuôi mọi việc, không muốn mẹ ông buồn ảnh hưởng đến sức khỏe nên ông đồng ý chấp nhận và ông đã chuyển cho bà K 750.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 02/01/2020 chuyển trả 50.000.000 đồng và ngày 16/3/2020 chuyển trả 700.000.000 đồng.
Như vậy, phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là thửa đất số 1216
ông và bà K đã chia và ông đã thối lại cho bà K 750.000.000 đồng vào năm 2020. Nay do bà K không thừa nhận việc thỏa thuận phân chia như trước đây thì ông có yêu cầu phản tố buộc bà K phải trả lại cho ông 750.000.000 đồng.
Trong thời kỳ hôn nhân, ngày 06/12/2018 ông và bà K đã dùng thửa đất nêu trên thế chấp cho Ngân hàng TMCP K1 - Chi nhánh B, Phòng G để vay số tiền 2.000.000.000 đồng. Ngày 22/7/2019, ông và bà K ly hôn, số nợ nêu trên một mình ông tự trả và ông đã tất toán vào ngày 02/3/2020 với số tiền 2.000.000.000 đồng chưa tính tiền lãi và tiền phạt.
Số nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, sau khi ly hôn ông đã trả cho ngân hàng là 2.000.000.000 đồng, nay ông yêu cầu phản tố buộc bà K có nghĩa vụ trả cho ông 1.000.000.000 đồng để cấn trừ vào yêu cầu khởi kiện chia tài sản của bà K. Tổng cộng ông yêu cầu phản tố buộc bà K phải trả cho ông 1.750.000.000 đồng (trong đó gồm 1.000.000.000 đồng chia nợ ngân hàng trong thời kỳ hôn nhân và 750.000.000 đồng ông đã chuyển khoản cho nguyên đơn về thỏa thuận chia tài sản chung).
Đối với yêu cầu của bà K về việc buộc ông phải trả thêm 700.000.000 đồng trị giá 10 container ông không đồng ý chấp nhận vì số container bà K trình bày là không có thật, ông không quản lý sử dụng nên ông không đồng ý chấp nhận.
Tại biên bản định giá tài sản ngày 16/11/2022 thì đất có giá là 2.100.000 đồng/m².
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 59, Điều 62 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của bà Võ Thị Mộng K.
- Chia cho bà Võ Thị Mộng K 50% giá trị thửa đất số 1216, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 650558 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/02/1018 có giá trị là 1.643.040.000 đồng.
- Chia cho ông Trương Vĩnh P 50% giá trị thửa đất số 1216, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 650558 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/02/1018 có giá trị là 1.643.040.000 đồng.
Giao cho ông Trương Vĩnh P được toàn quyền sử dụng thửa đất số 1216, tờ bản đồ số 39, có diện tích là 1.564,8m², tọa lạc tại thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 650558 được Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/02/2018. Buộc ông Trương Vĩnh P phải thanh toán cho bà Võ Thị Mộng K số tiền là 1.643.040.000 đồng (một tỷ sáu trăm bốn mươi ba triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng).
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Trương Vĩnh P.
Buộc bà Võ Thị Mộng K phải hoàn trả lại cho ông Trương Vĩnh P số tiền 1.750.000.000 đồng (một tỷ bảy trăm năm chục triệu đồng, trong đó gồm 1.000.000.000 đồng chia nợ ngân hàng trong thời kỳ hôn nhân và 750.000.000 đồng bị đơn đã chuyển khoản cho nguyên đơn về thỏa thuận chia tài sản chung).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/01/2024, nguyên đơn bà Võ Thị Mộng K có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, cho rằng bản án sơ thẩm không thỏa đáng và không khách quan và yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Nguyên đơn bổ sung yêu cầu kháng cáo đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, cụ thể như sau:
- - Yêu cầu chia cho nguyên đơn 60% diện tích thửa đất số 1216 tại thôn M, xã T, thị xã L, vì nguyên đơn có công sức đóng góp nhiều hơn bị đơn, nguyên đơn chứng minh đã bán tài sản riêng là thửa đất số 1796, diện tích 113m² đất ở, tọa lạc tại khu phố Q, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương để mua thửa đất 1216 và chuyển mục đích sử dụng đất.
- - Về yêu cầu phản tố của ông Trương Vĩnh P: Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là bản tự khai của ông Trương Vĩnh P và biên bản hòa giải tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương là không khách quan, buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn một tỷ đồng chia nợ chung là không đúng pháp luật, nên yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Yêu cầu xem xét số tiền bị đơn chuyển trả cho nguyên đơn tổng cộng 750 triệu đồng là chuyển trả cho số tiền 01 tỷ 700 triệu đồng bị đơn đã vay của nguyên đơn, không phải tiền thỏa thuận chia tài sản chung giá trị thửa đất 1216 như bị đơn trình bày. Số tiền 01 tỷ 700 triệu đồng có liên quan đến yêu cầu phản tố của bị đơn đối với số tiền 750 triệu đồng. Tại phiên tòa bị đơn thừa nhận nguyên đơn có đưa cho bị đơn số tiền 01 tỷ 700 triệu đồng hai bên đã thỏa thuận tại Tòa án thị xã L vào ngày 04/10/2022 nhưng không lập biên bản nhưng nguyên đơn có ghi
âm lại và đã nộp vi bằng cho tòa án phúc thẩm, tuy nhiên bị đơn không thừa nhận 750 triệu đồng chuyển trả cho nguyên đơn là tiền trả nợ nên nguyên đơn sẽ khởi kiện bị đơn bằng một vụ án khác đối với số tiền 01 tỷ 700 triệu đồng.
* Bị đơn ông Trương Vĩnh P trình bày:
- - Ông P không đồng ý chia cho nguyên đơn 60% diện tích thửa đất số 1216, theo ông công sức đóng góp vào tài sản chung của hai người là ngang nhau; mọi thủ tục mua bán, chuyển mục đích sử dụng đất là do ông tự làm; nguồn tiền để mua đất là của mẹ ông bỏ ra mua.
- - Về số tiền 01 tỷ 700 triệu đồng thì tại Tòa án nhân dân thị xã La Gi trước đây ông và bà K có thỏa thuận về số tiền này, ông thừa nhận bà K có đưa cho ông 01 tỷ 700 triệu đồng và hai bên thỏa thuận sẽ cấn trừ qua chiếc xe innova từ 700 đến 750 triệu, còn 950 triệu ông phải trả cho bà K và ông đã trả hết cho bà K. Tại thời điểm đó do ông không muốn ly hôn với bà K nên hai người sẽ tự giải quyết với nhau về số tiền này.
- - Về tài sản chung trước đó ông và bà K đã tự thỏa thuận phân chia, sau đó ông đã chuyển khoản trả cho bà K 750 triệu đồng nay phải được trừ vào tiền chia tài sản chung và bà K phải trả lại cho ông số tiền 750 triệu đồng.
- - Về số tiền nợ chung 02 (hai) tỷ đồng là do ông và bà K cùng đứng tên người vay trong hợp đồng, ông là người trả toàn bộ số tiền gốc và lãi cho ngân hàng nên nay bà K phải trả lại cho ông 0 (một) tỷ đồng tiền chia nợ chung.
* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa xét thấy kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận một phần:
Tính công sức đóng góp của nguyên đơn vào việc tạo lập tài sản chung nhiều hơn bị đơn (60% giá trị tài sản);
Về số tiền 750 triệu đồng bị đơn chuyển trả cho nguyên đơn là tiền thỏa thuận chia tài sản chung, nay bị đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn trả lại 750 triệu là có căn cứ chấp nhận.
Nếu nguyên đơn có tranh chấp với bị đơn về số tiền 01 tỷ 700 triệu đồng thì nguyên đơn khởi kiện bằng một vụ án khác;
Về nợ chung bị đơn đã thừa nhận tại Bản tự khai ngày 03/7/2019 và Biên bản hòa giải ngày 12/7/2019 tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, là nguyên đơn chỉ đứng tên vay dùm cho bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn thừa nhận đó là chữ ký và chữ viết của bị đơn và bị đơn khai tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương là đúng. Do đó không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn đối với số tiền một tỷ đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn
cứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Nguyên đơn bà Võ Thị Mộng K kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Đây là vụ án “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”, đối tượng tranh chấp và bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thị xã L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Trong vụ án này, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án theo hướng sửa bản án sơ thẩm chấp nhận chia cho nguyên đơn 60% diện tích đất 1564,8m², thuộc thửa đất số 1216, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 650558 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/7/2018 đứng tên ông Trương Vĩnh P. Và bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
[4] Bị đơn có yêu cầu phản tố, yêu cầu nguyên đơn phải trả lại số tiền 750.000.000 đồng bị đơn đã chuyển khoản cho nguyên đơn về thỏa thuận chia tài sản chung giá trị thửa đất 1216 và 1.000.000.000 đồng tiền chia nợ ngân hàng trong thời kỳ hôn nhân.
[5] Tại Văn bản số 2804/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 13/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 650558, thửa đất số 1216, tờ bản đồ số 39, diện tích 1564,8m² tại thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/7/2018 đứng tên ông Trương Vĩnh P là đúng trình tự, thủ tục, đối tượng theo quy định của luật đất đai.
[6] Giá trị thửa đất số 1216 theo giá thị trường là 3.286.080.000 đồng (1564,8m² x 2.100.000 đồng/m²).
[7] Ông Trương Vĩnh P và bà Võ Thị Mộng K kết hôn vào ngày 11/12/2017, ly hôn vào ngày 22/7/2019. Như vậy, tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 1216 được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên xác định là tài sản chung của ông P và bà K theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình.
[8] Ông Trương Vĩnh P cho rằng, thửa đất 1216 có nguồn gốc do mẹ ông mua rồi để lại cho ông nhưng ông không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xác định là tài sản riêng của ông. Tuy nhiên, ông P cũng thừa nhận tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của ông và bà K. Bà K cho rằng thửa đất 1216 là tài sản chung của bà và ông P, tuy nhiên số tiền bà bỏ ra để
mua đất, chuyển mục đích sử dụng đất nhiều hơn ông P, bà chứng minh bà đã bán tài sản riêng của bà là thửa đất số 1796, diện tích 113m² đất ở tại khu phố Q, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương vào ngày 08/5/2018 (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng), để đưa tiền cho ông P mua thửa đất 1216 và chuyển mục đích sang đất ở vào tháng 8 năm 2018, còn ông P không chứng minh được nguồn tiền bỏ ra mua thửa đất 1216 là của mẹ ông và ông cũng không phản đối bà K bán tài sản riêng của bà đưa tiền cho ông mua đất và chuyển mục đích sử dụng đất. Do đó xác định công sức đóng góp của bà K nhiều hơn ông P trong khối tài sản chung nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình chia cho bà K 60% giá trị quyền sử dụng thửa đất 1216 là 1.971.648.000 đồng (tương đương với 938,88m² đất ); chia cho ông P 40% giá trị quyền sử dụng thửa đất 1216 là 1.314.432.000 đồng (tương đương 625,92m² đất).
Giao cho ông Trương Vĩnh P được toàn quyền sử dụng thửa đất số 1216, buộc ông Trương Vĩnh P phải thanh toán cho bà Võ Thị Mộng K số tiền là 1.971.648.000 đồng giá trị tài sản chung mà bà K được hưởng.
[9] Xét yêu cầu phản tố của ông Trương Vĩnh P, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Sau khi ly hôn, ông P có hai lần chuyển khoản cho bà Võ Thị Mộng K số tiền 750.000.000 đồng, bà K xác nhận bà đã nhận số tiền này của ông P. Tuy nhiên, đây không phải là tiền thỏa thuận chia tài sản chung mà là tiền ông P chuyển trả nợ cho bà trong số tiền ông P vay bà 1.700.000.000 đồng khi hai người còn sống chung. Ngược lại, ông P cho rằng số tiền 750.000.000 đồng ông chuyển trả cho bà K không liên quan đến số tiền 1.700.000.000 đồng. Do đó, xác định số tiền 750.000.000 đồng ông P chuyển trả cho bà K là tiền chia tài sản chung thửa đất 1216, bà K đã nhận số tiền này, nay ông P yêu cầu bà phải trả lại là có cơ sở chấp nhận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của ông P đối với số tiền 750.000.000 đồng là có căn cứ.
Nếu bà K có tranh chấp với ông P về số tiền 1.700.000.000 đồng thì bà khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
Đối với số tiền nợ 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 551/18/HĐTD/2501-6858 ngày 06/12/2018 ký giữa bên cho vay Ngân hàng TMCP K1 - chi nhánh B - Phòng G với bên vay ông Trương Vĩnh P và bà Võ Thị Mộng K; mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh hải sản và quán cơm. Bà K cho rằng bà chỉ đứng tên vay dùm cho ông P, bà không sử dụng số tiền vay vào mục đích cá nhân hay mục đích chung của vợ chồng.
Xét thấy, tại Bản tự khai ngày 03/7/2019 của ông Trương Vĩnh P có thể hiện nội dung “...cho đến tháng 4/2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, tôi có nhờ vợ tôi vay dùm tôi hồ sơ ngân hàng là 2 tỷ đồng để làm ăn và hiện tại anh trai tôi chưa trả lại số tiền cho tôi được nên từ đó hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn...” và tại Biên bản hòa giải ngày 12/7/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương có thể hiện nội dung “...nguyên nhân là do vợ chồng tôi tính tình không hợp, bất đồng quan điểm
sống, chúng tôi bất đồng về kinh tế, tôi có nhờ vợ tôi vay số tiền 2.000.000.000 đồng để cùng chung với anh trai tôi đầu tư làm ăn, nhưng đến nay anh trai tôi chưa trả tiền lại cho tôi nên từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn”.
Tại phiên tòa, ông P thừa nhận bản tự khai ngày 03/7/2019 là của ông và do ông tự viết, ký tên và nộp cho Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong vụ án ly hôn giữa bà K và ông; ông có tham gia hòa giải tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương vào ngày 12/7/2019 và đó là lời khai, chữ ký của ông.
Tại phiên tòa, ông P xác nhận ông có khai ông nhờ bà K đứng tên trong hợp đồng tín dụng để vay dùm cho ông hai tỷ đồng để cho anh trai ông làm ăn tại bản tự khai và biên bản hòa giải nêu trên là đúng, tuy nhiên vì ông muốn níu kéo tình cảm với bà K và không muốn ly hôn với bà K nên ông mới khai như trên. Như vậy, căn cứ vào sự thừa nhận của ông P thì bà K không cần phải chứng minh. Do đó, xác định số tiền vay ngân hàng 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) là do ông P nhờ bà K đứng tên vay dùm cho ông P, nên toàn bộ số tiền gốc và lãi là do ông P tự trả cho ngân hàng là phù hợp với hóa đơn chứng từ do ngân hàng cung cấp và phù hợp với lời khai của bà K. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ do bà K cung cấp có trong hồ sơ vụ án là chưa đảm bảo tính khách quan, toàn diện vụ án dẫn đến chấp nhận yêu cầu chia nợ chung trong khi bà K chỉ đứng tên vay dùm cho ông P và bà không sử dụng số tiền vay mà buộc bà phải chịu trách nhiệm chia nợ chung và trả lại cho ông P 1.000.000.000 (một tỷ đồng) là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà K và không đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông P đối với số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) chia nợ ngân hàng trong thời kỳ hôn nhân đối với bà K.
[10] Từ những nhận định trên, xét thấy chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên xác định lại nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm b khoản 5 Điều 27 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[12] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí tố tụng là 4.200.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ.
[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên bà Võ Thị Mộng K là người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ Luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Mộng K, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
[2] Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 33, điểm b khoản 2 Điều 59, Điều 62 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm b khoản 5 Điều 27, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Luật Thi hành án dân sự.
[3] Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia tài sản sau khi ly hôn của bà Võ Thị Mộng K.
Xác định thửa đất số 1216, tờ bản đồ số 39, diện tích 1564,8m², trị giá 3.286.080.000 đồng tại thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 650558 ngày 20/7/2018 đứng tên ông Trương Vĩnh P là tài sản chung của ông Trương Vĩnh P và bà Võ Thị Mộng K.
Chia cho bà Võ Thị Mộng K 60% giá trị thửa đất số 1216 là 1.971.648.000 đồng (Một tỷ chín trăm bảy mươi mốt triệu, sáu trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
Chia cho ông Trương Vĩnh P 40% giá trị thửa đất số 1216 là 1.314.432.000 đồng (Một tỷ ba trăm mười bốn triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Giao cho ông Trương Vĩnh P được toàn quyền sử dụng thửa đất số 1216, tờ bản đồ số 39, diện tích 1564,8m², tọa lạc tại thôn M, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 650558 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/7/2018 cho ông Trương Vĩnh P. Buộc ông Trương Vĩnh P phải thanh toán cho bà Võ Thị Mộng K giá trị phần tài sản chung mà bà K được hưởng là 1.971.648.000 đồng (Một tỷ chín trăm bảy mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
[4] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Trương Vĩnh P.
Buộc bà Võ Thị Mộng K phải hoàn trả lại cho ông Trương Vĩnh P số tiền 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu buộc bà Võ Thị Mộng K phải trả cho ông Trương Vĩnh P số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) chia nợ chung trong thời kỳ hôn nhân.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Võ Thị Mộng K phải chịu 71.149.440 đồng án phí về tài sản được chia và 34.000.000 đồng án phí đối với yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận. Tổng cộng 105.149.440 đồng, nhưng được khấu trừ 35.500.000 đồng tạm ứng án phí bà Võ Thị Mộng K đã nộp tại biên lai thu số 0005126 ngày 25/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi. Số tiền bà Võ Thị Mộng K còn phải nộp là 69.649.440 đồng (Sáu mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi đồng).
Ông Trương Vĩnh P phải chịu 51.432.960 đồng án phí về tài sản được chia và 42.000.000 đồng án phí đối với yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận. Tổng cộng 93.432.960 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 32.000.000 đồng ông Trương Vĩnh P đã nộp theo biên lai thu số 0002291 ngày 12/12/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã La Gi. Số tiền ông Trương Vĩnh P còn phải nộp là 61.432.960 đồng (Sáu mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn chín trăm sáu mươi đồng).
[6] Về chi phí tố tụng: Bà Võ Thị Mộng K tự nguyện chịu 4.200.000 đồng. Bà K đã nộp đủ.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà Võ Thị Mộng K không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Võ Thị Mộng K 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0011314 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã La Gi.
[8] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[9] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (21/5/2024).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phong Lan |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà M kiện ông P yêu cầu chia 60% diện tích đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
