Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/DS –ST

Ngày: 07 - 05 - 2024

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Văn Hoàng;
  2. Ông Lê Trường Vũ.

Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Phước Tín – là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 207/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024; thông báo thay đổi thời gian xét xử số 08/TB-TA ngày 23/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Tổ 1, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt).

- Đồng bị đơn: Ông Trần Thanh N, sinh năm 1981 và bà Dương Thị Bích N1, sinh năm 1979; Cùng cư trú: Tổ A, ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2023, bản tự khai, trong quá trình tố tụng và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị C trình bày và yêu cầu:

Vào năm 2022, do quen biết với ông Trần Thanh N và bà Dương Thị Bích N1 (vợ chồng). Vào ngày 26/6/2022 âm lịch, ông N, bà N1 có hỏi vay của bà C số tiền 20.000.000 đồng, không quy định thời hạn, khi nào bà C cần lấy lại tiền thì ông N, bà N1 lo trả vốn cho bà C, với lãi suất 10%/tháng. Ông N, bà N1 có trả lãi cho bà C số nợ vay trên được 07 tháng với số tiền lãi là 14.000.000 đồng và từ đó trở về sau phía ông N, bà N1 không còn trả lãi và còn nợ vốn vay 20.000.000 đồng;

Ngày 15/7/2022 âm lịch bà N1 trực tiếp vay của bà C số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất và thời hạn trả nợ như khoản cho vay trên; bà N1 có trả lãi vay cho bà C được 03 tháng lãi là 3.000.000 đồng và sau đó không còn trả lãi;

Kế tiếp, tháng 02/2023 âm lịch, bà N1 hỏi vay trả góp cho bà C số tiền 10.000.000 đồng (mỗi ngày góp 200.000 đồng, thời hạn 02 tháng dứt), bà N1 có góp cho bà C được 5.000.000 đồng và còn nợ lại 5.000.000 đồng. Ngoài ra bà N1, ông N còn mượn bà C số tiền 3.200.000 đồng tháng 02/2023al.

Đối với số nợ vay trên, ông N và bà N1 còn nợ bà C số tiền vốn vay là 38.200.000 đồng.

Ngoài ra bà N1 còn có nhờ bà Cẩm vô dùm cho bà N1 01 phần hụi của dây hụi 2.000.000 đồng, gồm 18 phần 01 tháng bia 01 lần tham gia dây hụi do bà C đứng tên góp hụi, bà C hốt lần đầu 25.500.000 đồng, số tiền hốt trên bà C đã khấu trừ vào nợ vay, số còn lại khoảng 8.000.000 đồng bà C có giao cho bà N1. Bà C đã chầu hụi chết do bà N1 đã hốt chưa chầu hụi chết còn lại cho bà C là 30.000.000 đồng, việc chơi hụi không có làm giấy tờ, hợp đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói với nội dung bà N1 kêu bà C vô dùm 01 dây hụi (do bà C đứng ra chịu trách nhiệm) khi hốt đến kỳ chầu hụi chết bà N1 không chầu và còn nợ bà C 30.000.000 đồng tiền hụi chết.

Bà C rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với tiền góp hụi 30.000.000 đồng và tiền cho vay là 16.800.000 đồng. Cộng: 36.800.000 đồng;

Nay, bà C yêu cầu ông N và bà N1 phải có trách nhiệm trả cho bà C số tiền vay còn nợ lại 28.200.000 đồng, yêu cầu ông N, bà N1 trả ngay một lần dứt và không yêu cầu tính lãi phát sinh.

* Đồng bị đơn ông Trần Thanh N và bà Dương Thị Bích N1 trình bày và ý kiến:

Vào ngày 26/6/2022 âm lịch, ông N và bà N1 có hỏi vay của bà C số tiền 20.000.000 đồng, không quy định thời hạn, khi nào chị C cần lấy lại tiền thì lo trả vốn cho bà C, với lãi suất 10%/tháng. Có trả lãi cho bà C được 07 tháng với số tiền lãi là 14.000.000 đồng và còn nợ bà cẩm vốn vay 20.000.000 đồng.

Kế tiếp, khoảng tháng 02/2023 âm lịch, ông N, bà N1 có vay trả góp cho bà C số tiền 10.000.000 đồng (mỗi ngày góp 200.000 đồng, thời hạn 02 tháng dứt), đã góp cho bà C được 5.000.000 đồng và còn nợ lại 5.000.000 đồng.

Ngoài ra ông N, bà N1 có mượn bà C số tiền 3.200.000 đồng tháng 02/2023al. Tổng cộng tiền vay còn nợ lại bà cẩm là 28.200.000 đồng.

Do hoàn cảnh gia đình khó khăn xin hẹn trả cho bà C mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết số nợ vốn vay 28.200.000 đồng. Đối với khoản lãi đã thực hiện trả cho bà C thì ông N, bà N1 không yêu cầu truy thu và xin tự nguyện chịu.

Tại phiên tòa, bà C vẫn giữ nguyên yêu cầu, ông N và bà N1 vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu có ý kiến với việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án là đảm bảo đúng qui định pháp luật. Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý và tại phiên tòa, các đương sự đã chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ và nội quy phiên tòa như đã quy định.

Về nội dung vụ án: Hợp đồng vay tài sản giữa bà Trần Thị C với bà Dương Thị Bích N1 và ông Trần Thanh N, hai bên không làm hợp đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, bà C rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền tiền góp hụi 30.000.000 đồng và tiền vay là 16.800.000 đồng. Cộng: 36.800.000 đồng, số còn lại 28.200.000 đồng, bà C yêu cầu ông N, bà N1 trả ngay số nợ còn lại 28.200.000 đồng; ông N, bà N1 xin trả dần mỗi tháng cho bà C 500.000 đồng cho đến khi dứt số nợ trên nhưng không được bà C đồng ý về phương thức thanh toán.

Do đó, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ các Điều 217; 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 463; 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Đề nghị HĐXX đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà C đối với số tiền 36.800.000 đồng; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C, buộc bà N1 và ông N có trách nhiệm trả số tiền 28.200.000 đồng cho bà C.

Về án phí: Đề nghị HĐXX căn cứ Nghị Quyết 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tính án phí các đương sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị C với bà Dương Thị Bích N1 và ông Trần Thanh N tranh chấp hợp đồng vay tài sản và bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại: Tổ A, ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[2] Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn bà Trần Thị C cung cấp và sự thừa nhận của đồng bị đơn bà N1 và ông N thì các bên đương sự thống nhất số tiền bà bà N1 và ông N còn nợ lại bà C là 28.200.000 đồng vốn vay, hiện nay do làm ăn thua lỗ và hoàn cảnh kinh tế gia đình đang gặp khó khăn nên không còn khả năng thanh toán ngay cho bà C; bà N1 và ông N xin trả dần cho bà C mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết số nợ trên, bà C có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 36.800.000 đồng và không đồng ý xin trả dần theo yêu cầu của ông N, bà N1.

Căn cứ vào Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 do đó, theo yêu cầu khởi kiện của bà C yêu cầu bà N1 và ông N có trách nhiệm thanh toán số tiền 28.200.000 đồng cho bà C ngay một lần là có căn cứ, phù hợp pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định bà N1 và ông N không thực hiện việc trả nợ tiền vay cho bà C là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên buộc bà N1 và ông N có nghĩa vụ thanh toán cho bà C số nợ tiền vay là 28.200.000 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện nguyên đơn được chấp nhận nên bà C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho bà C tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà N1 và ông N phải chịu án phí theo theo quy định khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

[4] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 228; Điều 147; Điều 217; Điều 218 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C đối với yêu cầu bà Dương Thị Bích N1 và ông Trần Thanh N đối với số tiền 36.800.000 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C, buộc bà Dương Thị Bích N1 và ông Trần Thanh N có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị C số tiền là 28.200.000 (hai mươi tám triệu hai trăm nghìn) đồng.
  3. Về án phí:

    Bà Dương Thị Bích N1 và ông Trần Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.410.000 (một triệu bốn trăm mười nghìn) đồng.

    Hoàn lại cho bà Trần Thị C 1.625.000 (một triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu số: 0007591 ngày 17/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

“Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015."

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TX Tân Châu;
  • - Chi cục THADS TX Tân Châu;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Dẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/DS –ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi

  • Số bản án: 13/2024/DS –ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị C tranh chấp hợp đồng vay tài sản và góp hụi với Ông Trần Thanh N và bà Dương Thị Bích N1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger