Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/KDTM-ST

Ngày: 26/4/2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua

bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu;
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 73/2023/TLST-KDTM ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST - KDTM ngày 18 tháng 3 năm 2024, giữa :

Nguyên đơn: Công ty TNHH S, tỉnh Bình Dương

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Đ bà Trần Thị H chỉ liên hệ: F đường số A, TTHC D, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương – là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 05/9/2023), có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH S1, tờ bản đồ D4 (DC-15) khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương– là bị đơn. Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Bùi Thị Ngọc C, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Đ1sinh năm 1979; nơi cư trú: B khu phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/3/2022, Công ty TNHH S2 (sau đây gọi tắt là Công ty S2) và Công ty TNHH S2 (sau đây gọi tắt là Công ty S2) đã ký kết “Hợp đồng mua bán dăm bào, củi vụn” với những nội dung cụ thể như sau:

  • Công ty Sđồng ý bán, Công ty Sđồng ý mua hàng hóa là các loại dăm bào, củi vụn. Giá mua, bán: Dăm bào là 6.000.000đ/01 xe; củi vụn là 4.500.000đ/01 xe. Trọng lượng xe: 3,5 tấn (Khối lượng thùng xe không quá 30m3); thời hạn hợp đồng: 02 năm, kể từ ngày 21/3/2022 đến ngày 21/3/2024.
  • Hai bên đặt cọc để đảm bảo việc Công ty S3thực hiện việc mua dăm bào, củi vụ của Công ty S3trước tiền mua hàng cho Công ty S2số tiền là: 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng).
  • Phương thức thanh toán: Hai bên thỏa thuận đối chiếu chốt công nợ vào ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng để đối trừ tiền mua hàng vào tiền đặt cọc; chi phí vận chuyển, bốc xếp do Công ty A thay đổi hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng khi chưa có thỏa thuận chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại.

Ngay sau khi ký hợp đồng, Công ty S5chuyển khoản Công ty S6số tiền: 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng). Việc giao, nhận tiền được Công ty S7hiện thành nhiều đợt, bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng từ số tài khoản của bà Nguyễn Thị Đ1(là vợ của ông H1 C1DCông ty SBà Đ1cũng là nhân viên thủ quỹ của Công ty S3, chuyển khoản từ số tài khoản: 65310000477995, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ3(Bvà số tài khoản: 4672987, ngân hàng Thương mại Cổ phần Á(A1 do bà Nguyễn Thị Đ2 chủ tài khoản vào số tài khoản: 2086427, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á(A1 do bà Bùi Thị N là chủ tài khoản. Các lần chuyển tiền cụ thể như sau: Ngày 16/3/2022: 100.000.000đ; ngày 21/3/2022: 400.000.000đ; ngày 31/3/2022: 300.000.000đ. Sau khi ký hợp đồng, từ ngày 21/3/2022 đến tháng 8/2022, Công ty S4 tổng giá trị là: 129.000.000₫ (một trăm hai mươi chín triệu đồng). Công ty S10 hàng nhưng chưa bàn giao văn bản, chứng từ giao, nhận hàng; hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty S5 đến khoảng tháng 9/2022, Công ty S6 không tiếp tục giao hàng cho Công ty Smặc dù đã nhiều lần yêu cầu Công ty S8hiện nghĩa vụ giao hàng hoặc hoàn trả số tiền đã nhận theo hợp đồng đã ký kết nhưng Công ty S7

Nhận thấy, việc làm nêu trên của Công ty S8 đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Công ty S9, đề nghị Tòa án giải quyết các nội dung sau:

  • Tuyên chấm dứt “Hợp đồng mua bán dăm bào, củi vụn” ngày 16/3/2022 được ký kết giữa Công ty TNHH S2
  • Buộc Công ty TNHH S10 lần cho Công ty T tổng số tiền là: 751.520.000đ (bảy trăm năm mươi mốt triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng), bao gồm:
    • Tiền gốc tạm ứng còn lại: 671.000.000đ;

+ Tiền lãi (tạm tính từ 01/9/2022 đến 01/9/2023) là: 80.520.000₫ (671.000.000₫ x 1%/tháng x 12 tháng).

Quá trình làm việc, theo bản tự khai ngày 19/4/2024, Công ty Srút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần tiền lãi, chỉ yêu cầu trả nợ gốc là 671.000.000₫ (Sáu trăm bảy mươi mốt triệu đồng).

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy uỷ quyền (bản chính); hồ sơ pháp nhân của Công ty S2, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (bản chứng thực); hợp đồng mua bán, biên lai chuyển tiền (bản photo); bảng đối chiếu công nợ.

Theo bản tự khai ngày 12/01/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Đ1trình bày:

Bà Đllà vợ của ông Hà Công D– người đại diện theo pháp luật của Công ty Shiện bà là nhân viên thủ quỹ của Công ty. Khi hai bên ký kết hợp đồng mua bán, theo chỉ đạo của ông D2đã chuyển khoản số tiền đặt cọc 800.000.000 đồng cho bà Bùi Thị Ngọc C1– người đại diện theo pháp luật của Công ty S2 Bà xác định số tiền trên là tài sản của Công ty S11 kiến hay yêu cầu gì đối với số tiền trên. Do tính chất công việc, không thể sắp xếp thời gian đến Tòa làm việc nên bà Đ1đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn Công ty TNHH S2 không đến Tòa án làm việc, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như bản tự khai ngày 19/4/2024 và không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và không có yêu cầu gì trong vụ án.

Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật.
  • Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn để yêu cầu trả lại số tiền mua hàng hóa 671.000.000 đồng. Bị đơn có trụ sở tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà không rõ lý do, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân thành phố Thuận An tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Quá trình làm việc, theo bản tự khai ngày 19/4/2024, Công ty Srút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần tiền lãi, chỉ yêu cầu trả nợ gốc là 671.000.000 đồng (sáu trăm bảy mươi mốt triệu đồng), việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Theo nguyên đơn trình bày thì vào ngày 16/3/2022 nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa là dăm bảo củi vụn, hai bên đặt cọc để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng, Công ty Sđã tạm ứng số trước tiền mua hàng cho Công ty S2số tiền là: 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng), tiền mua hàng sẽ được trừ dần vào tiền tạm ứng, thời hạn hợp đồng là 02 năm (đến 21/4/2024). Sau khi ký hợp đồng, từ ngày 21/3/2022 đến tháng 8/2022, Công ty S5cho Công ty A1 đợt hàng với tổng giá trị là: 129.000.000 đồng, từ tháng 09/2022 Công ty Skhông tiếp tục giao hàng cho Công ty SSố tiền còn lại sau khi trừ tiền các đợt hàng đã giao là: 800.000.000 đồng – 129.000.000 đồng = 671.000.000 đồng.

[2.2] Hợp đồng mua bán hai bên ký kết là hợp đồng song vụ, quyền và nghĩa vụ hai bên phát sinh từ thời điểm ký kết hợp đồng. Từ các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp có thể xác định: Phía Công ty S12 đủ nghĩa vụ của mình, phía Công ty S18giao hàng từ ngày 21/3/2022 đến tháng 8/2022, kể từ tháng 09/2022 không tiếp tục giao hàng, như vậy phía Công ty Sđã vi phạm nghĩa vụ giao hàng. Bên cạnh đó, theo nội dung thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết thì khi hết hạn hợp đồng phía Công ty S2 sẽ trừ tiền hàng vào số tiền 800.000.000 đồng hoặc trả lại cho Công ty S2, tính đến nay hợp đồng trên đã hết hạn, Công ty S2 vẫn chưa trả lại số tiền 671.000.000 đồng cho Công ty S2. Như vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

[3] Quá trình tố tụng, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình, Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định.

[4] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Các Điều 34, 50 của Luật thương mại;
  • Các Điều 422, 428 của Bộ luật Dân sự;
  • Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S2 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với bị đơn Công ty TNHH S2.
  2. Tuyên bố chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 16/3/2022 giữa Công ty TNHH S2 và Công ty TNHH S2.

    Buộc Công ty TNHH S2 trả lại cho Công ty TNHH S2 số tiền 671.000.000 đồng (sáu trăm bảy mươi mốt triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S2 đối với Công ty TNHH S2 về việc yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán.
  4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
  5. Công ty TNHH S2 phải chịu 30.840.000 đồng (ba mươi triệu, tám trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

    Trả lại cho Công ty TNHH S2 số tiền 17.330.400 đồng (mười bảy triệu, ba trăm ba mươi nghìn, bốn trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001707 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

  6. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP.Thuận An;,
  • - Chi cục THADS TP.Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Quang Ngọc Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/KDTM-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 13/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp HĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger