|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-4 - 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Hòa
- Bà Lê Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Trần Phương Duy- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2023/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phiên tòa số: 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh S, sinh năm 1995
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi;
Bị đơn: Anh Phạm Tiến D, sinh năm 1998
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 05/7/2023, đơn khởi kiện bổ sung và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh S trình bày:
Chị và anh Phạm Tiến D có tìm hiểu nhau và kết hôn vào năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường P. Sau khi kết hôn vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, không hiểu nhau, không thông cảm cho nhau và do anh D ngoại tình. Chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh D không thay đổi. Giữa chị và anh D đã sống ly thân từ năm 2022. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.
Về con chung: Chị S và anh D có hai con chung tên Phạm Nguyễn Yến N sinh ngày 11/7/2017 và Phạm Nguyễn Minh K sinh ngày 04/8/2020, hiện tại hai cháu đang sống cùng chị S, khi ly hôn chị S yêu cầu được tiếp tục nuôi hai cháu. Chị yêu cầu anh D phải cấp dưỡng cho cháu K và cháu N, mỗi cháu, mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Tiến D đã nhận được các thông báo của Tòa án nhưng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh S, cho chị S được ly hôn anh Phạm Tiến D. Về con chung: giao cho chị S nuôi, anh D phải cấp dưỡng cho con mỗi tháng, mỗi cháu 1.000.000 đồng; tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh S có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Phạm Tiến D ở tổ dân phố Đ, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về tố tụng: Bị đơn anh Phạm Tiến D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh D.
[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh S và anh Phạm Tiến D tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Đ, do vậy quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh D là hoàn toàn hợp pháp. Theo chị S, vợ chồng chị mâu thuẫn là do vợ chồng đã không còn tin tưởng nhau. Qua xác minh bà Nguyễn Thị T, là mẹ của anh D được biết, vợ chồng chị S, anh D mâu thuẫn về kinh tế. Về phía anh D đã biết chị S ly hôn nhưng bỏ mặc không quan tâm, không đến Tòa để tham gia hòa giải. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị S và anh D đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị S được ly hôn anh D.
[4] Về con chung: Vợ chồng chị S, anh D có hai con chung tên Phạm Nguyễn Yến N, sinh ngày 11/7/2017 và Phạm Nguyễn Minh K, sinh ngày 04/8/2020, khi ly hôn chị S yêu cầu được nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con của chị S, Hội đồng xét xử xét thấy, cả hai đều dưới 7 tuổi và hiện hai cháu đang sống cùng chị S. Do đó để đảm bảo điều kiện về mọi mặt và ổn định cuộc sống cho hai cháu, Hội đồng xét xử nên giao cháu N và cháu K cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng cho con: Chị S yêu cầu mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng cho mỗi cháu. Hội đồng xét xử xét thấy, anh D đang ở trong độ tuổi lao động, do đó khi không trực tiếp nuôi con, anh phải cấp dưỡng nuôi con. Mức cấp dưỡng mà chị S đưa ra để chi phí cho việc học hành và chăm sóc giáo dục hai con là phù hợp với nhu cầu thực tế tại địa phương nên việc chị S yêu cầu cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng cho mỗi con chung là có cơ sở theo quy định tại Điều 82, 110 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 01/5/2024 cho đến khi cháu N và cháu K đủ 18 tuổi.
[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
[6] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Minh S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn; anh Phạm Tiến D phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng cho con.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 và 110 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội,
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Minh S được ly hôn anh Phạm Tiến D.
- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Nguyễn Yến N sinh ngày 11/7/2017 và Phạm Nguyễn Minh K sinh ngày 04/8/2020 cho chị Nguyễn Thị Minh S được tiếp tục nuôi dưỡng.
Anh Phạm Tiến D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng, mỗi cháu 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 01/5/2024 cho đến khi cháu Phạm Nguyễn Yến N và cháu Phạm Nguyễn Minh K đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Anh Phạm Tiến D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000364 ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Anh Phạm Tiến D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng cho con.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hồng Mỹ |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho chị S được ly hôn anh D
