Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HS-ST

Ngày 04 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Út

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thành Công

Bà Nguyễn Thu Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Khả Khiêm, là Thư ký Toà án của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Ông Dương Bá Tùng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Thị K (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/10/1982, tại Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: khóm G, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn G (đã chết), con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Chồng: Ngô Văn Q (đã ly hôn), con Ngô Thị Trúc A, sinh năm 2013; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 09 tháng 10 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 18 tháng 10 năm 2024 để nay (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị K: Luật sư Nguyễn Tố N – Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09 tháng 10 năm 2024, đối tượng Nguyễn Văn T – sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991, thường trú ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau có nhu cầu mua ma túy sử dụng nên đã thuê anh Nguyễn Văn T1 (anh T1 chạy xe G1) chở T đi từ nhà đến thành phố C đi mua ma túy (T nói với anh T1 là đi công việc). Đến thành phố C, T kêu anh T1 chở qua cầu H, rẽ vào con hẻm đến nhà trọ cho thuê tháng Hồ N thuộc khóm G, phường G, TP C. Khi đến nơi khu trọ, anh T1 đậu xe ngồi đợi trước cửa phòng trọ số A, còn T đi vào bên trong gặp Nguyễn Thị K để hỏi mua ma túy. T nói với bị can K “lấy cái hai”, có nghĩa là T mua 200.000 đồng ma túy đá, K đồng ý. Sau đó, T đưa cho K 200.000 đồng, K đi đến mở hộc tủ nhựa đựng quần áo đề cạnh giường ngủ lấy bọc ma túy đá ra đưa cho T, T bỏ bọc ma túy vào túi áo rồi đi về. Khi T vừa ra khỏi cửa phòng trọ thì bị lực lượng Công an tới bắt quả tang, thu giữ trên người của T bọc ma túy vừa mới mua của K. Sau đó, lực lượng Công an kiểm tra phòng trọ của K phát hiện bên trong tủ nhựa đựng quần áo ngăn trên cùng bên tay phải có 03 bọc nilon. Bên trong bọc nilon thứ nhất có chứa 85 bọc nilon bên trong mỗi bọc đều có chứa tinh thể màu trắng; bọc nilon thứ hai có chứa 13 bọc nilon bên trong mỗi bọc đều có chứa tinh thể màu trắng; bọc nilon thứ ba có chứa 23 bọc nilon bên trong mỗi bọc đều có chứa tinh thể màu trắng, cùng với số tiền 16.900.000 đồng. Lực lượng làm nhiệm vụ tiến hành lập biên bản, thu giữ số ma túy số tiền nêu trên.

Quá trình điều tra Nguyễn Thị K khai nhận: Vào chiều ngày 03 tháng 10 năm 2024, K liên hệ với người nam thanh niên (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) thỏa thuận mua 20 gam ma túy đá với giá 10.000.000 đồng, K xin nợ tiền khi nào bán ma túy có tiền sẽ trả sau. Người thanh niên đồng ý và hẹn giao ma túy cho K trước cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh C. Sau khi nhận ma túy xong, K mang bọc ma túy về phòng trọ phân nhỏ rồi cất giấu trong tủ nhằm mục đích bán lại cho người mua. Đến ngày 09 tháng 10 năm 2024, sau khi K bán ma túy cho T thì bị bắt quả tang.

K còn khai trước đó đã mua ma túy của người thanh niên nêu trên 02 lần, mỗi lần đều mua 10 gam với số tiền 5.000.000 đồng/lần, K mang về phòng trọ phân nhỏ bán cho người mua một phần, phần còn lại bị can K chưa bán được thì bị bắt quả tang cùng với số ma tuý mua ngày 03 tháng 10 năm 2024. Ngoài ra, K còn nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với người khác nhưng do thời gian đã lâu nên bị can không nhớ rõ thời gian, diễn biến cụ thể từng lần.

Quá trình điều tra bị can thành khẩn khai báo, có chú ruột là thương binh. Bị can không có tình tiết tăng nặng.

* Tại Kết luận giám định số 579/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C, kết luận:

  • Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.78/2024 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0335gam, loại Methamphetamine.
  • Tinh thể màu trắng bên trong 85 bọc nilon chứa trong bọc nilon thứ nhất được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M.79/2024 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 18,2251 gam, loại Methamphetamine.
  • Tinh thể màu trắng bên trong 13 bọc nilon chứa trong bọc nilon thứ hai được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M.79/2024 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,9714 gam, loại Methamphetamine.
  • Tinh thể màu trắng bên trong 23 bọc nilon chứa trong bọc nilon thứ ba được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M.79/2024 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 10,9395 gam, loại Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 33,1695 gam, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

H1 lại đối tượng giám định trong phong bì hoàn mẫu số 579/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2024.

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 579/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2024) của Phòng K1 Công an tỉnh C, có đóng dấu niêm phong.
  • Một điện thoại di động Oppo màu hồng, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0942206761;
  • Tiền 16.900.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị Kiều Cơ Q1 điều tra đã nộp vào tài khoản Công an tỉnh C tại kho bạc Nhà nước tỉnh C (đã chuyển cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau).

Cáo trạng số: 13/CT – VKS – P1 ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Thị K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa:

Do sơ suất trong khâu đánh máy, tại trang 04 Cáo Trạng ghi “... từ 12 năm đến 20 năm”, nay điều chỉnh từ “... từ 15 năm đến 20 năm”.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K từ 15 - 16 năm tù;

- Về xử lý vật chứng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 579/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2024) của Phòng K1 Công an tỉnh C, có đóng dấu niêm phong.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • Một điện thoại di động Oppo màu hồng, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0942206761 (do điện thoại liên lạc mua ma túy).
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng; đối trừ số tiền 16.900.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị K;
  • Hoàn trả 16.700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị K; tiền không liên quan đến phạm tội, Biên lai thu tiền số 0000237 ngày 12/02/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau. (Kèm theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản ngày 22/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau).

Luật sư Nguyễn Tố N bào chữa cho bị cáo: Đồng tình với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có chú ruột là thương binh thuộc tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo nuôi con nhỏ, nuôi mẹ già, nhận thức pháp luật hạn chế, lượng ma túy thuộc mức khởi điểm khung hình phạt, từ đó đề nghị quyết định hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo. Đối với số tiền 16.700.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo đề nghị trả lại cho bị cáo.

- Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều X được xét xử khung hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại nào khác về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Vào khoảng 13 giờ ngày 09 tháng 10 năm 2024, tại phòng trọ số A, khu N, thuộc khóm G, phường G, TP C, tỉnh Cà Mau. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kết hợp với Công an phường G2, thành phố C, tỉnh Cà Mau bắt quả tang Nguyễn Thị K bán cho đối tượng Nguyễn Văn T 01 bọc ma túy với giá 200.000 đồng. Kiểm tra tại phòng trọ của K lực lượng chức năng phát hiện và thu giữ thêm 03 bọc nilon, qua kết luận giám định bên trong đều có chứa ma túy, với tổng khối lượng 33,1695 gam, loại Methamphetamine do K mua về cất giữ nhằm bán lại để thu lợi bất chính.

Với tình tiết nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Thị K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm lớn cho xã hội. Bởi lẽ, ma tuý là chất gây nghiện, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội. Mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi phạm tội của bị cáo còn cho thấy sự xem thường pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và trật tự an toàn xã hội. Do đó, bị cáo phải gánh chịu mức hình phạt nghiêm khắc nhất. Khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo gồm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo còn có chú ruột là thương binh, nên cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Từ đó, cần cách lý bị cáo một thời gian dài ra khỏi đời sống xã hội để răn đe, phòng ngừa chung và cải tạo bị cáo trở thành một công dân sống có ích cho xã hội.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 579/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2024) của Phòng K1 Công an tỉnh C, có đóng dấu niêm phong.
  • Tịch thu sung quỹ:
    • Một điện thoại di động Oppo màu hồng, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0942206761 (do điện thoại liên lạc mua ma túy); T2 thu lợi bất chính 200.000 đồng (đối trừ số tiền 16.900.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị K);
  • Hoàn trả 16.700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị K; tiền không liên quan đến phạm tội, Biên lai thu tiền số 0000237 ngày 12/02/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau. (Kèm theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản ngày 22/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau).

[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau về áp dụng hình phạt, xử lý tang vật là phù hợp, nên được chấp nhận.

[6] Luật sư đề nghị áp dụng: Các tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt nhẹ để quyết định hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[7] Về các vấn đề có liên quan:

  • Mặc dù quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thị K khai nhận đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều người nhưng không chứng minh được cụ thể bán cho ai, vào thời gian nào, số lượng ma túy và tiền thu cụ thể từng lần nên không có căn cứ buộc bị cáo phạm tội nhiều lần.
  • Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Thị K, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý. Yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, có căn cứ xử lý sau.
  • Đối với hành vi mua ma túy để sử dụng của Nguyễn Văn T do không đủ căn cứ để xử lý hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an xã L để xử lý theo quy định là có căn cứ.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị K 15 (mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù được tính kể từ ngày 09 tháng 10 năm 2024.
  2. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì hoàn mẫu số 579/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2024) của Phòng K1 Công an tỉnh C, có đóng dấu niêm phong.
    • Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
      • Một điện thoại di động Oppo màu hồng, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0942206761 (do điện thoại liên lạc mua ma túy); T2 thu lợi bất chính 200.000 đồng.
    • Hoàn trả 16.700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị K; tiền không liên quan đến phạm tội, Biên lai thu tiền số 0000237 ngày 12/02/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau. (Kèm theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản ngày 22/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau).
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị K phải nộp 200.000 đồng, (chưa nộp).
  4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nơi nhận:

  • - VKS nd cấp cao tại TP HCM;
  • - VKS nd tỉnh Cà Mau;
  • - Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Phòng KTNV&THA TAnd tỉnh Cà Mau;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn, Tòa HS, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Huỳnh Văn Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 13/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều “Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger