|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST Ngày 20/8/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Viết Tuấn, bà Trương Thị Kim Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Hưng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phan Thành N, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/6/2024, đơn xin vắng mặt tại phiên toà ngày 02/8/2024, nguyên đơn anh Phan Thành N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, anh và chị H sống ly thân từ tháng 7/2022 cho đến nay. Anh N xác định không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phan Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/9/2011. Anh N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc A và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 10/7/2024, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Trong quá trình hôn nhân, chị và anh N xảy ra nhiều mâu thuẩn không thể khắc phục được, vì vậy chị đồng ý ly hôn. Về con chung: Có 01 con chung là cháu cháu Phan Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/9/2011. Chị H có nguyện vọng giao cháu Ngọc A cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 96, 97, 175, 177, 178, 195, 196, 203, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ, tuân thủ quy định của pháp luật về thời hạn thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử và thực hiện việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát trước khi tham gia phiên tòa. Thư ký thực hiện việc tống đạt hợp lệ tất cả văn bản tố tụng cho đương sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đều đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho anh Phan Thành N được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/9/2011 cho anh Phan Thành N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Anh Phan Thành N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Sau khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn, xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Toà án đã triệu tập hợp lệ nguyên đơn và bị đơn đến tham gia tố tụng tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Qua xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh N và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị vào ngày 01/4/2009, trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau. Tại biên bản xác minh ngày 03/7/2024, Hội liên hiệp phụ nữ xã H cung cấp thông tin: Trong sinh hoạt hàng ngày, do bất đồng quan điểm sống nên giữa anh N và chị H thường xảy ra mâu thuẫn, anh N và chị H đã sống ly thân từ tháng 7/2022 cho đến nay.
Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa anh N và chị H không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phan Thành N.
[4]. Về nuôi con chung: Anh N và chị H có 01 con chung là cháu Phan Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/9/2011. Anh N nguyện vọng trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc A, anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn xin vắng mặt ngày 10/7/2024, chị H củng có nguyện vọng giao cháu Ngọc A cho anh N chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 25/6/2024, cháu Ngọc A có nguyện vọng xin được sống với bố nếu bố mẹ ly hôn. Anh N cũng đã cung cấp cho Toà án xác nhận công việc buôn bán với thu nhập bình quân 6.000.000 đồng/tháng. Thấy rằng việc giao cháu Phan Nguyễn Ngọc A cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hợp lý, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Anh N và chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: Anh Phan Thành N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Thành N được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/9/2011 cho anh Phan Thành N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Phan Thành N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng tại biên lai thu số 0000209 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng. Anh N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoan |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thành Nh- Nguyễn Thị H
