|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/9/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Láng
Bà Hoàng Thị Thào
Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 22/2024/TLST - HNGĐ, ngày 02 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Triệu Mùi N – sinh năm 1995; (Vắng mặt có lý do, có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: Anh Đặng Kiềm C – sinh năm 1997; (Vắng mặt không có lý do).
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 02/01/2024 và bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Triệu Mùi N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Mùi N và anh Đặng Kiềm C có quen biết, tìm hiểu tình cảm và về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014. Đến ngày 22/6/2018 thì đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, việc kết hôn của chị N và anh C trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng anh chị cùng chung sống hòa thuận, hạnh phúc tại nhà của chị Triệu M Nhậy ở thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Đến khoảng năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và đến năm 2022 thì càng trở nên trầm trọng. Việc bất đồng quan điểm và không thể tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến sứt mẻ tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn được.
Từ năm 2022 anh C bỏ đi làm thuê ở địa phương khác, anh chị chính thức ly thân cho đến nay mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm, hỏi han đến ai.
Nay, chị N nhận thấy tình cảm không còn, anh chị không muốn chăm sóc, gắn bó, chia sẻ để xây dựng gia đình với nhau (hôn nhân của chị N và anh C cũng không còn tồn tại trên thực tế trong suốt 3 năm qua), mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C và đã thông báo cho anh C được biết về yêu cầu khởi kiện của mình.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N và anh C có 03 (Ba) con chung là Triệu Thị Thư sinh ngày 03/9/2014, Triệu Kim H sinh ngày 03/3/2016, Triệu Hạo T sinh ngày 06/10/2018, các con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nếu được ly hôn, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con vì lâu nay chị vẫn là người trực tiếp nuôi con, anh C ít khi liên hệ hỏi han quan tâm đến con cái, đồng thời hiện nay chị đang sinh sống ổn định tại địa phương, nơi cư trú gần nhà bố mẹ đẻ nên bố mẹ chị cũng giúp được nhiều trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Chị N không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do hiện nay chị N đang là lao động tự do, không sắp xếp được thời gian nghỉ để tham gia phiên tòa, do vậy, chị N có văn bản về việc giữ nguyên toàn bộ ý kiến, lời khai đối với các vấn đề cần giải quyết trong vụ án và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị N.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đặng Kiềm C không có mặt tại nơi cư trú.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Đặng Kiềm C theo địa chỉ thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn là nơi cư trú của anh C theo xác nhận thông tin về cư trú của Công an xã H nhưng không thấy anh C có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án. Anh C cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo yêu cầu. Tòa án đã nhiều lần đến địa chỉ nhà anh Đặng Kiềm C tại thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để giao, tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác nhưng không lần nào gặp được anh Đặng Kiềm C. Chính vì vậy, Tòa án không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo các giấy tờ, văn bản tố tụng cho anh C.
Để đảm bảo quyền lợi của đương sự và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đồng thời tiến hành xác minh, niêm yết công khai thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú cuối cùng của anh C.
* Các tài liệu do Tòa án thu thập, xác minh tại địa phương thể hiện:
Chị Triệu Mùi N và anh Đặng Kiềm C về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014 nhưng do anh C chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên đến ngày 22/6/2018 anh chị mới thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn theo quy định, việc kết hôn của chị N và anh C trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn anh Đặng Kiềm C đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã H cùng với chị Triệu Mùi N. Quá trình hôn nhân, thời gian đầu vợ chồng anh chị cùng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, tuy nhiên sau đó hai vợ chồng anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, đến khoảng năm 2022 thì anh C đã bỏ đi làm ăn tại địa phương khác, tuy nhiên thi thoảng anh có về nhà tại thôn Đ để thăm con cái, đồng thời hộ khẩu của anh C vẫn ở thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
* Tại phiên toà:
- Đại diện viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì về tố tụng.
- Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn (có đơn xin xét xử vắng mặt) và bị đơn (không có lý do). Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147/BLTTDS; khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; các Điều 58; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Triệu Mùi N:
- + Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Mùi N được ly hôn với anh Đặng Kiềm C.
- + Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Giao 03 (Ba) con chung là Triệu Thị Thư sinh ngày 03/9/2014, Triệu Kim H sinh ngày 03/3/2016, Triệu Hạo T sinh ngày 06/10/2018 cho chị Triệu M Nhậy trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn, anh C được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không đề nghị giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- + Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2024, nguyên đơn chị Triệu M Nhậy đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đặng Kiềm C và giải quyết tranh chấp nuôi con chung. Đây là vụ án “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”, các đương sự đều cư trú tại thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Việc Tòa án tiến hành các trình tự thủ tục tố tụng về thụ lý vụ án; xem xét xác minh thu thập tài liệu chứng cứ; thông báo để các bên đương sự tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ; hòa giải việc nuôi con chung và ghi nhận ý kiến được kịp thời, đúng quy định của pháp luật. Đảm bảo sự có mặt tham gia xét xử của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Triệu Mùi Nhậy vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn Đặng Kiềm C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238/BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn Triệu Mùi Nhậy và bị đơn Đặng Kiềm C.
[3]. Về nội dung:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Mùi N và anh Đặng Kiềm C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 22/6/2018 nên xác định hôn nhân của các đương sự là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Cho đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương và tôn trọng nhau, gia đình cũng đã khuyên can, hòa giải nhưng tình cảm hai vợ chồng vẫn không thay đổi, không tìm được tiếng nói chung, anh C đã đi làm ăn tại địa phương khác bỏ mặc hôn nhân dẫn đến việc anh chị sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Quá trình ly thân, chị N và anh C mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm, hỏi han đến ai, cuộc sống hôn nhân cũng không còn tồn tại trên thực tế, nay chị N không còn tình cảm với anh C nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
Như vậy, phải khẳng định rằng mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh C đã có nhiều mâu thuẫn xảy ra và ngày càng trầm trọng, anh chị không còn tình cảm và tiếng nói chung với nhau trong cuộc sống. Với tình trạng hôn nhân như vậy, xét thấy có vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình, mục đích xây dựng cuộc sống hôn nhân hạnh phúc của anh chị không đạt được, nên cần thiết chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, giải quyết cho chị N được ly hôn anh C.
* Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N và anh C có 03 (Ba) con chung là Triệu Thị Thư sinh ngày 03/9/2014, Triệu Kim H sinh ngày 03/3/2016, Triệu Hạo T sinh ngày 06/10/2018, các con chung khỏe mạnh và phát triển bình thường.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án không tiến hành làm việc được với anh C để xác định được cụ thể về điều kiện nuôi con của anh C.
Hội đồng xét xử xét thấy lâu nay chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung, hơn nữa chị N có thu nhập ổn định (cụ thể chị N là lao động tự do, thu nhập khoảng 6.000.000đ/01 tháng) có thể đảm bảo cho các con chung được phát triển lành mạnh, ổn định về mọi mặt. Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến của con chung Triệu Thị T1 (10 tuổi) và Triệu Kim H (8 tuổi) đều có nguyện vọng được ở cùng với mẹ là chị Triệu Mùi N. Con chung Triệu Hạo T (6 tuổi) không tiến hành ghi nhận ý kiến vì chưa đủ 7 tuổi, tuy nhiên qua xem xét, cân nhắc các điều kiện nhằm đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con, HĐXX xét thấy giao con chung Triệu Hạo T cho chị Triệu M Nhậy trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.
Do vậy, xét về điều kiện nuôi con của chị N là đảm bảo, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N: Giao 03 (Ba) con chung là Triệu Thị Thư sinh ngày 03/9/2014, Triệu Kim H sinh ngày 03/3/2016, Triệu Hạo T sinh ngày 06/10/2018 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các con chung 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Triệu M Nhậy không yêu cầu anh Đặng Kiềm C cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Đặng Kiềm C được đảm bảo quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định.
* Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị Triệu Mùi N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[5]. Đối với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238/BLTTDS; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69; Điều 71; Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Triệu Mùi N.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Mùi N được ly hôn với anh Đặng Kiềm C.
- - Về con chung: Giao 03 (Ba) con chung là Triệu Thị Thư sinh ngày 03/9/2014, Triệu Kim H sinh ngày 03/3/2016, Triệu Hạo T sinh ngày 06/10/2018 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các con chung 18 tuổi.
- - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Triệu M Nhậy không yêu cầu anh Đặng Kiềm C cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Anh Đặng Kiềm C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
* Về tài sản chung, vay nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[2]. Về án phí:
Chị Triệu Mùi N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002275 ngày 02/4/2024. Xác nhận chị N đã nộp đủ tiền án phí.
[3]. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Linh |
6
Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2024, nguyên đơn chị Triệu Mùi Nhậy đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đặng Kiềm Chiêu và giải quyết tranh chấp nuôi con chung
