Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM BÔI

TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST

Ngày 02/8/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Chương.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • + Ông Bùi Văn Nghiệp;
    • + Ông Nguyễn Xuân Trường.
  • - Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Mạnh Thuyền.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Lương – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 46/2024/TLST - HNGĐ ngày 15/5/2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/QÐST-HNGĐ ngày 17/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Bùi Thị N, sinh năm 1985.

Trú tại: xóm T, xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: anh Bùi Văn G, sinh năm 1980.

Trú tại: xóm T, xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt lần 2 không có lý do).

PHẦN NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 15/5/2024 và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn là chị Bùi Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Thị N và anh Bùi Văn G tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình vào ngày 15/12/2003. Sau khi kết hôn chị N chuyển khẩu về sinh sống cùng gia đình anh G tại xóm T, xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình cho đến nay. Thời gian đầu cuộc sống hai vợ chồng hạnh phúc và có hai con chung với nhau. Sau đó hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh G thường xuyên đánh đập, hành hạ thể chất và tinh thần dẫn đến cuộc sống không hoà thuận. Chị N đã bỏ về nhà ngoại ở xã Đ, huyện K và hai vợ chồng đã ly thân khoảng 03 năm nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị và anh G không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với nhau được nữa nên chị cũng đã thông báo cho anh G biết việc chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh nhưng anh G không về để Tòa án hoà giải theo quy định pháp luật. Do đó chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Bùi Văn G.

Về con chung: Chị và anh G có 02 con chung là Bùi Thị D, sinh ngày 24/11/2004 (đã trưởng thành và đi làm) và Bùi Minh K, sinh ngày 15/4/2013. Hai con hiện đang sinh sống cùng anh G. Sau khi ly hôn chị N có nguyện vọng, trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu K cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị N chưa yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung, đối với cháu D đã trưởng thành và đi làm chị N không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Bùi Văn G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hoà giải nhưng anh G vẫn không có mặt tại Tòa án do đó Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh G vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương. Kết quả xác minh cho thấy: Chị N và anh G có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, sau kết hôn anh chị sống cùng gia đình anh G được một thời gian thì chị N về nhà ngoại sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh G thường xuyên đi làm ăn xa nhà, không có mặt ở địa phương thỉnh thoảng anh G có về nhà thăm con sau đó lại đi làm, việc chăm sóc con cái chủ yếu do mẹ anh G đảm nhiệm. Tòa đã làm các thủ tục niêm yết văn bản tố tụng để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

- Về tố tụng:

  • + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thấy rằng: Việc thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp. Quá trình điều tra xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
  • + Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
  • + Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70, điều 71 của BLTTDS. Đối với bị đơn: anh Bùi Văn G mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do, như vậy anh G đã từ bỏ quyền của mình quy định tại các Điều 70, 72 của BLTTDS.

- Về nội dung:

  • Đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N. Xử cho chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Bùi Văn G.
  • Về con chung: Chị N và anh G có 02 con chung là Bùi Thị D, sinh ngày 24/11/2004 (đã trưởng thành và đi làm) và Bùi Minh K, sinh ngày 15/4/2013. Hai con hiện đang sinh sống cùng anh G. Anh G thường xuyên đi làm ăn nên giao cháu K cho chị N trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
  • Về tài sản chung và công nợ chung: không có, không đề nghị giải quyết nên không đề cập.
  • Về án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện K, tỉnh Hòa Bình nên Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Bùi Văn G đã được triệu tập hợp lệ để ghi lời khai, trình bày ý kiến, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do. Tòa án đã xác minh tại gia đình và nơi cư trú của anh Bùi Văn G, tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh G vắng mặt không có lý do, đồng thời chị Bùi Thị N có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh G theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Bùi Văn G khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, tỉnh Hòa Bình vào ngày 15/12/2003. Do vậy hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Bùi Văn G được xác định là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống chung sau kết hôn diễn ra bình thường và có hai con chung với nhau. Sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị N hiện nay đang sinh sống ở nhà ngoại tại xã Đ, huyện K. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, chị và anh G không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với nhau được nữa nên chị có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi giải quyết ly hôn với anh G.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh G đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại. Mặt khác, anh G biết chị N nộp đơn xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án để thể hiện ý kiến của mình, điều này chứng tỏ anh G cũng không mong muốn được hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ. Do đó chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Bùi Văn G.

Về con chung: Chị và anh G có 02 con chung là Bùi Thị D, sinh ngày 24/11/2004 (đã trưởng thành và đi làm) và Bùi Minh K, sinh ngày 15/4/2013. Chị N có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu K. Mặc dù cháu K có ý kiến muốn ở với bố, tuy nhiên xét để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con do anh G thường xuyên đi làm ăn, con chủ yếu ở với bà nội, chị N làm nghề tự do, có thu nhập do vậy việc giao con cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị N chưa yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Về cháu Bùi Thị D, sinh ngày 24/11/2004 đã trưởng thành và đi làm, chị N không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và công sức đóng góp: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xét giải quyết nên HĐXX không xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 179; điểm b khoản 2 Điều 227, điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Tuyên xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N; xử cho chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Bùi Văn G.
  2. 2. Về con chung: Giao con chung là Bùi Minh K, sinh ngày 15/4/2013 cho chị Bùi Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có quyết định khác của Tòa án. Chị N chưa yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Bùi Văn G có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
  3. 3. Án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0003216 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bôi; chị Bùi Thị N đã nộp xong án phí.
  4. 4. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị N và anh Bùi Văn G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Trường

Bùi Văn Nghiệp

Bùi Văn Chương

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKS ND Huyện Kim Bôi;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Bôi;
  • - UBND xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS + VT.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HOÀ BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HOÀ BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÙI THỊ NH LY HÔN BÙI VĂN G
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger