TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ***** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ***** |
Bản án số: 13/2024/KDTM-ST
Ngày: 19-08-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Luận
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh Thương mại thụ lý số: 34/2023/TLST-KDTM ngày 20/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QÐST-KDTM ngày 22/07/2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 51/2023/QĐHPT-ST ngày 05/08/2024 giữa:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần X (Ngân hàng E).
Trụ sở chính: Tầng 8, Văn phòng số L+16 Tòa nhà V, số G L, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Cảnh A – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng E: Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q1 và Khai thác tài sản - Ngân hàng Thương mại Cổ phần X (E).
Theo Hợp đồng ủy quyền số: 02/2018/HĐUQ/EIB-AMC ngày 17/09/2018 giữa Ngân hàng E và E.
Trụ sở: B T, phường V, quận C, TP Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Mạnh T – Chức danh: Chủ tịch Công ty.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Khắc Đ (Giấy uỷ quyền số: 493/2024/EIBA/UQ-TGĐ ngày 17/4/2024) và bà Ngô Thị T1, bà Đàm Thị Thủy T2 (Giấy uỷ quyền số: 79/2024/EIBAHN/UQ-GĐ ngày 06/08/2024)
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M – Chủ Hộ kinh doanh.
Giấy đăng ký kinh doanh: 0318001725.
Đăng ký lần đầu ngày 14/01/2007, đăng ký lại lần thứ 1: ngày 22/9/2011
Địa điểm kinh doanh: Tổ A, khu X, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội.
Hộ khẩu thường trú: thôn X, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hộ ông Trịnh Bá K gồm:
- Ông Trịnh Bá K, sinh năm 1974
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (vợ ông K)
- Anh Trịnh Bá Đ1, sinh năm 1997 (con ông K + bà H)
Đều đăng ký HKTT tại: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
- Anh Trịnh Bá T3, sinh năm 1994 (con ông K và bà H - chết 2022)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Trịnh Bá T3:
- Ông Trịnh Bá K, sinh năm 1974 (bố anh T3)
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (mẹ anh T3)
Đều đăng ký HKTT tại: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
- Hộ ông Nguyễn Tiến D gồm:
- Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1962
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1965 (vợ ông D)
- Ông Nguyễn Tiến D1, sinh năm 1986 (vợ ông D)
Đều đăng ký HKTT tại: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1989 (vợ ông D)
Cư trú tại: Thôn N, xã B, huyện B, Thành phố Hà Nội.
- Hộ ông Vương Công T4 gồm:
- Ông Vương Công T4, sinh năm 1975
- Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1983 (vợ ông T4)
- Bà Vũ Thị R, sinh năm 1953 (mẹ ông T4)
- Anh Vũ Công T5, sinh năm 2003 (con ông T4 + bà M1)
- Anh Vũ Công T6, sinh năm 2007 (con ông T4 + bà M1)
Người đại diện theo pháp luật của anh Vũ Công T6: Ông Vương Công T4 Bà Nguyễn Thị M1 (bố mẹ đẻ).
Đều đăng ký HKTT tại: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa:
+ Có mặt: Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP X – Bà Ngô Thị T1; ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Tiến D1.
+ Vắng mặt: Bà Nguyễn Thị M – Chủ Hộ kinh doanh; anh Trịnh Bá Đ1, chị Nguyễn Thị D2; ông Vương Công T4; bà Nguyễn Thị M1; bà Vũ Thị R; anh Vũ Công T5; anh Vũ Công T6.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên hòa giải và tại phiên tòa. Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP X (E)– Bà Ngô Thị T1 trình bày:
Ngày 23/11/2011 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần X (Ngân hàng E) với bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh ký Hợp đồng tín dụng số: 1703-LAV–201102684 ngày 23/11/2011 với nội dung: Bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh vay Ngân hàng E số tiền: 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ, một trăm triệu đồng); mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán tiền hàng cho bà Vũ Thị P.
Ngày 21/12/2011, giữa Ngân hàng E với bà Nguyễn Thị M ký biên bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ để sửa đổi nguyên tắc tính lãi và lịch trả lãi; ngày 17/09/2012 giữa Ngân hàng E với bà Nguyễn Thị M ký biên bản (lần 2) sửa đổi thời hạn trả nợ là 15 tháng tính từ thời điểm giải ngân; kỳ hạn trả gốc, lãi và thời hạn cho vay trong Khế ước nhận nợ để sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng số: 1703-LAV-201102684 và khế ước nhận nợ số 1703-LDS-201103031.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng E đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị M số tiền: 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ, một trăm triệu đồng) theo Khế ước nhận nợ số: 1703-LDS-201103031 ngày 23/11/2011.
- - Số tiền giải ngân: 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ, một trăm triệu đồng.)
- - Thời hạn vay: 09 tháng, kể từ ngày 23/11/2011.
- - Lãi suất cho vay: 22,3%/năm và được điều chỉnh 01 tháng/01 lần.
- - Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Tài sản đảm bảo gồm:
- * Toàn bộ Quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số: 233, tờ bản đồ số 09 diện tích 705m2 tại địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BG 547404, số vào sổ cáp GCN: 00465 do UBND huyện C cấp ngày 14/11/2011) mang tên bà Nguyễn Thị M.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng số: 6669.HĐTC.2011 quyển số 04.TP/CC-SCC/HĐTC ngày 22/11/2011 tại Phòng C Thành phố Hà Nội.
Đăng ký giao dịch bảo đảm số: 2355, quyển số 04 ngày 23/11/2011 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C.
- * Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số: 111, tờ bản đồ số 18 diện tích 420m² đất (trong đó 200m² đất ở; 220m² đất vườn) tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 176052, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000260 QSDÐ/439 QĐUB do UBND huyện C cấp ngày 28/12/2001) mang tên Hộ ông Trịnh Bá K.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng số: 6671.2011/HĐTC quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 22/11/2011 tại Phòng C Thành phố Hà Nội.
Đăng ký giao dịch bảo đảm số: 2356, quyển số 04 ngày 23/11/2011 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C.
- * Toàn bộ Quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 94, tờ bản đồ số 19 diện tích 1.130m² đất (Trong đó 200m² đất ở; 930m² đất vườn) tại địa chỉ thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 170130, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000334 QSDÐ/439 QÐ UB do UBND huyện C cấp ngày 28/12/2001) mang tên hộ ông Nguyễn Tiến D.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng số: 6667.2011/HĐTC quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 22/11/2011 tại Phòng C Thành phố Hà Nội.
Đăng ký giao dịch bảo đảm số 2354, quyển số 04 ngày 23/11/2011 tại Văn phòng đăng ký đất và nhà huyện C.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Thị M đã trả cho Ngân hàng E tổng số tiền: 63.922.707 đồng. Trong trả nợ gốc là: 4.000.000 đồng, trả tiền lãi là: 59.922.707 đồng.
Sau đó, bà Nguyễn Thị M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Tạm tính đến ngày 24/4/2024, bà Nguyễn Thị M còn nợ Ngân hàng E tổng số tiền là: 10.890.455.962 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.096.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 757.892.962 đồng; nợ lãi quá hạn: 7.036.563.000 đồng.
Nay Ngân hàng E khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Buộc bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải thanh toán cho Ngân hàng E số tiền tính đến hết ngày 24/4/2024 tổng số tiền là: 10.890.455.962 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.096.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 757.892.962 đồng; nợ lãi quá hạn: 7.036.563.000 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải tiếp tục thanh toán các khoản nợ lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 25/4/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng E.
Kể từ ngày Q định/Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ thì Ngân hàng E có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi nợ.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh đối với Ngân hàng E. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng E./.
* Bị đơn – Bà Nguyễn Thị M trình bày:
Năm 2011, chị gái bà Nguyễn Thị M là bà Nguyễn Thị Thanh H2 cần vốn làm ăn. Bà Nguyễn Thị Thanh H2 có nhờ bà M ký Hợp đồng tín dụng để vay tiền tại Ngân hàng E. Đến nay bà M không biết bà M ký Hợp đồng tín dụng để vay bao nhiêu tiền và đã trả được bao nhiêu tiền cho Ngân hàng E vì bà M chỉ là người ký Hợp đồng tín dụng còn lấy tiền và trả tiền Ngân hàng E như thế nào là do bà H2 chứ bà M không biết.
Bà M xác nhận chữ ký bên vay tiền, bên nợ thể hiện trong Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV–201102684 ngày 23/11/2011; khế ước nhận nợ số 1703-LDS-201103031 ngày 23/11/2011; Biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 1703-LAV-201102684, khế ước nhận nợ số 1703-LDS-201103031 ngày 17/9/2012 và chữ ký trong các hợp đồng thế chấp đều là chữ ký của bà M. Tuy nhiên bà M là người đi ký Hợp đồng và ký các thủ tục để vay tiền hộ chị gái bà M là bà Nguyễn Thị Thanh H2 nên nội dung vay tiền, mục đích vay, thời hạn vay và tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng của những ai thì bà M không biết.
Đối với Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 233, tờ bản đồ số 09 tại địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên bà Nguyễn Thị M thì đến nay bà M cũng không biết vị trí thửa đất ở vị trí nào.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H thống nhất có ý kiến trình bày:
Gia đình ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H không biết bà Nguyễn Thị M là ai. Khoảng tháng 01/2011 thì gia đình ông K, bà H cần tiền nên có nhờ bà Trịnh Thị H3 là người ở thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội vay tiền hộ số tiền là: 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Gia đình ông K, bà H đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trịnh Thị H3. Ông K, bà H không biết bà H3 làm thế nào để vay tiền Ngân hàng. Đến ngày 01/12/2011, gia đình ông K, bà H nhận được tiền do Trịnh Thị H3 đưa với số tiền là: 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) ông K, bà H mất 6.000.000 đồng tiền phí. Khi vay, ông K, bà H thoả thuận với bà Trịnh Thị H3 là vay trong thời hạn 36 tháng, ông K, bà H phải trả hết tiền gốc còn tiền lãi thì trả hàng tháng và đến nay ông K, bà H đã trả hết tiền gốc và lãi cho bà H3.
Trước khi được bà H3 cho vay tiền, thì các thành viên trong gia đình ông K, bà H đã cùng với bà H3 đi ra H, lúc đó vào tầm 12 giờ trưa và bà H3 bảo những người trong gia đình ông K, bà H ký vào rất nhiều giấy tờ. Gia đình ông K, bà H không được đọc các giấy tờ đó và nghĩ là chỉ vay số tiền: 150.000.000 đồng nên đã ký.
Đến năm 2013 thì gia đình ông K, bà H mới biết bà H3 này mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông K, bà H để cho cả người khác cùng vay tiền. Sau đó, đã nhiều lần ông K, bà H đến nhà bà H3 để đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà H3 đều không trả và nói chuyện rất khó nghe. Khi gia đình ông K, bà H biết việc bà M cùng vay bằng việc thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông K, bà H thì ông K có lên nhà nói chuyện thì bà M toàn khất lần gia đình và không có trách nhiệm thanh toán tiền nợ để giải chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để trả cho gia đình ông K, bà H.
Ông K, bà H đã được Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ cho xem Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng số: 6671.2011/HĐTC quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 22/11/2011 tại Phòng C Thành phố Hà Nội và Đơn đăng ký giao dịch bảo đảm số 2356, quyển số 04 ngày 23/11/2011 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C thì ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H thừa nhận đúng là chữ ký của mình và những thành viên trong gia đình ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H.
Hiện nay thửa đất số 11, tờ bản đồ số 18 tại thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội gia đình ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H vẫn đang quản lý, sử dụng. Từ khi thế chấp đến nay thì vợ chồng ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H có sửa sang lại công trình chứ không xây dựng mới công trình nào trên đất thế chấp.
Những người đang sinh sống trên thửa đất số 111, tờ bản đồ số 18 tại thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội chỉ có vợ chồng ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H và anh Trịnh Bá Đ1 (con trai) sinh sống. Anh Trịnh Bá T3 đã chết năm 2022, trước khi chết anh T3 chưa lập gia đình. Ngoài ra không có ai khác sinh sống trên đất
Ông K, bà H không biết bà M dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông K, bà H đi vay số tiền lớn như vậy.
Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng E thì gia đình ông K, bà H mong muốn Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ và các cơ quan chức năng giúp đỡ gia đình ông K, bà H để bà Trịnh Thị H3 và bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng E để gia đình ông K, bà H lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sớm nhất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1 thống nhất trình bày:
Gia đình ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1 không biết bà Nguyễn Thị M là ai. Khoảng tháng 01/2011 thì gia đình ông D, bà H1 cần tiền nên có nhờ bà Trịnh Thị H3 là người ở thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội vay tiền hộ ông D, bà H1 số tiền: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Gia đình ông D, bà H1 đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trịnh Thị H3. Ông D, bà H1 cũng không biết bà H3 làm thế nào để vay được tiền. Đến ngày 01/12/2011 thì gia đình ông D, bà H1 nhận được tiền từ bà Trịnh Thị H3 số tiền vay là: 100.000.000 đồng, ông D, bà H1 mất 4.000.000 đồng tiền phí; đến ngày 08/12/2011 thì bà Trịnh Thị H3 lại đưa ông D, bà H1 vay thêm số tiền là 50.000.000 đồng và đến ngày 24/12/2011 bà Trịnh Thị H3 lại đưa ông D, bà H1 vay tiếp số tiền 50.000.000 đồng. Tổng cộng gia đình ông D, bà H1 được bà H3 đưa cho vay số tiền: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Khi vay ông D, bà H1 thoả thuận với bà H3 là sẽ vay trong thời hạn 36 tháng thì ông D, bà H1 sẽ trả hết gốc, còn tiền lãi thì sẽ trả hàng tháng.
Trước khi được cho vay tiền thì gia đình ông D, bà H1 cùng với bà H3 đi ra quận H, lúc đó vào tầm 12 giờ trưa và bà H3 bảo những người trong gia đình ông D, bà H1 ký vào rất nhiều giấy tờ, ông D, bà H1 không được đọc các giấy tờ đã ký vì nghĩ là chỉ vay 200.000.000 đồng nên cũng đã ký.
Đến năm 2013, gia đình ông D, bà H1 mới biết bà H3 mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông D, bà H1 để cho cả người khác cùng vay tiền tại Ngân hàng. Sau đó nhiều lần ông D, bà H1 đến nhà bà H3 để đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà H3 không trả. Khi biết bà Nguyễn Thị M cùng vay tiền thì ông D, bà H1 có lên nhà nói chuyện thì bà M khất lần không trả.
Ông D, bà H1 đã được Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ cho xem Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 6667.2011/HĐTC quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 22/11/2011 tại Phòng C Thành phố Hà Nội và Đơn đăng ký giao dịch bảo đảm số 2354, quyển số 04 ngày 23/11/2011 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C thì ông D, bà H1 thừa nhận đúng là chữ ký của các thành viên trong gia đình ông D, bà H1.
Hiện nay thửa đất số 94, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội gia đình ông D, bà H1 vẫn đang quản lý, sử dụng. Từ khi thế chấp đến nay, năm 2019 vợ chồng ông D, bà H1 xây dựng thêm 01 nhà cấp 4 lợp mái tôn.
Những người đang sinh sống trên thửa đất số 94, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội có vợ chồng ông D, bà H1 sinh sống, anh Nguyễn Tiến D1 đang làm ăn ở nội thành H thỉnh thoảng mới về nhà, chị Nguyễn Thị D2 đã lấy chồng và chuyển khẩu về địa chỉ: thôn N, xã B, huyện B, Thành phố Hà Nội.
Ông D, bà H1 không biết bà M dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông D, bà H1 để vay số tiền lớn như vậy.
Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng E, gia đình ông D, bà H1 mong muốn Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ và các cơ quan chức năng giúp đỡ gia đình ông D, bà H1 để bà Trịnh Thị H3 và bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng E để gia đình ông D, bà H1 lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong quá trình giải quyết vụ án, gia đình ông D, bà H1 đã có đơn đề nghị Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ cho giám định chữ ký của bà Nguyễn Thị M. Tuy nhiên ông D, bà H1 đã được Toà án đọc cho nghe biên bản ghi lời khai của bà M. Bà M thừa nhận chữ ký trong Hợp đồng tín dụng và các giấy tờ để vay tiền, khi bà M làm việc với gia đình ông D, bà H1 thì bà M lại bảo là bà M không ký kết giấy tờ gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Vũ Công T7 có ý kiến trình bày:
Ông Vũ Công T7 với ông Trịnh Bá K có quan hệ là chú cháu. Khoảng năm 2008, bố ông Vũ Công T7 là ông Vũ Công T8 (đã chết) và ông Trịnh Bá K có nói chuyện với nhau để thuận tiện cho việc đi lại, công việc của hai nhà thì gia đình ông T7 có ngõ đi giáp với phía Bắc của thửa đất của nhà ông K, ông K và ông D bàn bạc với nhau là ông K sẽ sử dụng phần đất ngõ đi của gia đình ông T7 còn gia đình ông T7 mở ngõ đi mới nằm trong phần đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông Trịnh Bá K. Việc đổi đất, do hai bên là họ hàng nên không có giầy tờ gì mà chỉ trao đổi bằng miệng và không có việc mua bán đất. Từ khi thống đổi ngõ thì gia đình ông T7 sử dụng một phần đất của nhà ông K làm ngõ đi, diện tích nhà ông T7 sử dụng có chiều rộng khoảng 04m còn chiều dài thì ông T7 không nhớ cụ thể. Phần đất còn lại của gia đình ông K, sau khi ông T7 mở ngõ đi qua thì hiện được gộp cùng phần đất ngõ đi cũ của gia đình ông T7 và ông K hiện đang để không, có tường bao xung quanh.
Những thành viên gia đình ông T7 đang sử dụng phần đất nhà ông K gồm: Vợ chồng ông Vũ Công T7, bà Nguyễn Thị M1 và con là anh Vũ Công T5, anh Vũ Công T6 và bà Vũ Thị R (mẹ ông T7). Ngoài ra không có ai khác,
Tại phần đất nhà ông K thì hiện gia đình ông T7 chỉ đổ bê tông, làm cổng để đi lại.
Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng E, nếu dẫn đên việc phát mại tài sản thì gia đình ông T7 sẽ trả lại đất cho gia đình ông K theo đúng hiện trạng như trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ban đầu và không yêu cầu gì về bồi thường hay thanh toán.
* Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện:
- + Trên thửa đất số 233, tờ bản đồ số 09 tại địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên bà Nguyễn Thị M là đất trống hiện không có ai sinh sống trên đất.
- + Trên thửa đất số 94, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên hộ ông Nguyễn Tiến D có vợ chồng ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1 và con trai là anh Nguyễn Tiến D1 đang sinh sống trên đất.
- + Trên thửa đất số 111, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên Hộ ông Trịnh Bá K có vợ chồng ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H và con trai là Trịnh Bá Đ1 đang sinh sống trên đất. Hiện trạng thửa đất có sự thay đổi. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Vương Công T4 thì ngõ đi vào thửa đất nhà ông T4 giáp phía Bắc thửa đất của gia đình ông Trịnh Bá K. Trong quá trình sử dụng đất, hai gia đình (ông K và ông T4) có sự thỏa thuận đổi đất cho nhau nên ngõ đi vào thửa đất của gia đình ông T4 cắt ngang thửa đất của gia đình ông Trịnh Bá K, còn diện tích ngõ đi vào nhà ông T4 trước đây gộp vào diện tích đất nhà ông K.
* Ý kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự:
+ Ý kiến của phía Nguyên đơn: Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng E giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ngân hàng E yêu cầu bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán cho Ngân hàng E toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số: 1703-LAV-201102684 ngày 23/11/2011 tạm tính đến hết ngày 19/08/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) tổng số tiền là: 11.095.952.962 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.096.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 757.892.962 đồng; nợ lãi quá hạn: 7.242.060.000 đồng.
Kể từ ngày 20/08/2024, bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trong trường hợp bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng E, Ngân hàng E có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn và một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình; ý kiến, quan điểm của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Về khoản tiền còn nợ và trách nhiệm trả nợ: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng E về việc Ngân hàng E yêu cầu bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải thanh toán cho Ngân hàng E toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV-201102684 ngày 23/11/2011 tạm tính đến hết ngày 19/08/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) tổng số tiền là: 11.095.952.962 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.096.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 757.892.962 đồng; nợ lãi quá hạn: 7.242.060.000 đồng.
Tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 20/08/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán xong nợ cho Ngân hàng E theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký.
Trong trường hợp bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng E, Ngân hàng E có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Về án phí: Bị đơn là bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ phải thanh toán cho Ngân hàng E theo quy định của pháp luật; Ngân hàng E được hoàn trả số tiền dự phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết:
Ngày 23/11/2011, giữa Ngân hàng E với bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh ký Hợp đồng tín dụng số: 1703-LAV-201102684 ngày 23/11/2011 và các biên bản sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng với nội dung: Bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh vay Ngân hàng E số tiền hạn mức là: 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm triệu đồng); thời hạn vay: 09 tháng, kể từ ngày 23/11/2011; lãi suất cho vay: 22,3%/năm và được điều chỉnh 01 tháng/01 lần; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng E đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh vay số tiền: 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm triệu đồng) .
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh đã vi phạm thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký. Ngân hàng E khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ yêu cầu bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải thanh toán khoản tiền còn nợ. Bị đơn là bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh có địa điểm kinh doanh: Tổ 1, khu X, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội nên theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, tranh chấp giữa các bên được xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại và thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
[1.2]. Về người tham gia tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác định được anh Trịnh Bá T3 là con trai ông Trịnh Bá K và bà Nguyễn Thị H là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã chết sau khi thế chấp tài sản nên Tòa án đưa những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Trịnh Bá T3 vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Trịnh Bá T3; trong quá trình sử dụng đất, sau khi thế chấp, giữa gia đình ông Trịnh Bá K và gia đình ông Vương Công T4 có việc đổi đất cho nhau để làm ngõ đi nên Toà án đưa các thành viên trong hộ gia đình ông Vương Công T4 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[1.3]. Về sự vắng mặt của Bị đơn và một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bị đơn - Bà Nguyễn Thị M – Chủ Hộ kinh doanh; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trịnh Bá Đ1; chị Nguyễn Thị D2; ông Vương Công T4; bà Nguyễn Thị M1; bà Vũ Thị R; anh Vũ Công T5; anh Vũ Công T6 vắng mặt không có lý do tại phiên tòa và đây là phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 28 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Xét yêu cầu về quan hệ tín dụng: Bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh đã xác nhận việc bà M ký kết toàn bộ nội dung thỏa thuận tín dụng theo Hợp đồng tín dụng số: 1703 -LAV-201102684 ngày 23/11/2011 với số tiền vay là: 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm triệu đồng) theo Khế ước nhận nợ số: 1703-LDS-201103031 ngày 23/11/2011, biên bản sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ ngày 21/12/2011, biên bản sửa đổi (lần 2) bổ sung hợp đồng tín dụng số: 1703-LAV-201102684 và khế ước nhận nợ số: 1703-LDS-201103031 ngày 17/09/2012. Nên xác định bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh đã được Ngân hàng E giải ngân số tiền: 3.100.000.000 đồng (Ba tỷ một trăm triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ nêu trên.
[2.2]. Xét tính pháp lý của Hợp đồng tín dụng, K1 ước nhận nợ và nghĩa vụ thanh toán nợ: Hợp đồng tín dụng số: 1703-LAV-201102684 ngày 23/11/2011; Khế ước nhận nợ số: 1703-LDS-201103031 ngày 23/11/2011, biên bản sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ ngày 21/12/2011, biên bản sửa đổi (lần 2) bổ sung hợp đồng tín dụng số: 1703-LAV-201102684 và khế ước nhận nợ số: 1703-LDS-201103031 ngày 17/09/2012 được các bên tự nguyện thỏa thuận ký kết, có nội dung và hình thức phù hợp quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh đã vi phạm các thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký. Vì vậy, Ngân hàng E khởi kiện yêu cầu bên vay là bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ và yêu cầu bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải trả khoản tiền gốc còn nợ, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn phát sinh trên số dư nợ gốc là có căn cứ.
Bà Nguyễn Thị M cho rằng, việc bà M ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng E là để vay tiền cho chị gái bà M là bà Nguyễn Thị Thanh H2 do bà H2 cần vốn để làm ăn. Bà M chỉ đi ký các giấy tờ để bà H2 vay tiền chứ bà M không biết bà H2 vay được bao nhiêu tiền từ Ngân hàng E và cũng không biết bà H2 đã thanh toán được bao nhiêu tiền cho Ngân hàng E. Hội đồng xét xử xét thấy, các tài liệu trong việc giao kết Hợp đồng tín dụng chỉ thể hiện bà M là người trực tiếp ký kết Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ, không thể hiện sự hiện diện của bà H2 và cũng không thể hiện thoả thuận giữa bà M và bà H2 trong Hợp đồng tín dụng. Do vậy, theo Hợp đồng tín dụng thể hiện người vay là bà Nguyễn Thị M nên trách nhiệm thanh toán nợ thuộc về bà Nguyễn Thị M. Nếu có việc thoả thuận giữa bà M và bà H2 mà phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác nếu các bên có yêu cầu.
Ngân hàng E đã xuất trình đầy đủ bảng kê tính khoản tiền còn nợ (gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn). Do vậy, cần buộc bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng E số tiền còn nợ tạm tính đến hết ngày 19/08/2024 là: 11.095.952.962 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.096.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 757.892.962 đồng; nợ lãi quá hạn: 7.242.060.000 đồng.
Kể từ ngày 20/08/2024, bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải tiếp tục chịu lãi trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán hết các khoản nợ cho Ngân hàng E.
[2.3]. Về tài sản bảo đảm: Biện pháp bảo đảm tiền vay được quy định tại Điều 7 – Tài sản bảo đảm của Hợp đồng tín dụng số: 1703 -LAV-201102684 ngày 23/11/2011. Nội dung chi tiết đối với biện pháp bảo đảm tiền vay được quy định chi tiết tại Điều 2 của các Hợp đồng thế chấp. Cụ thể quy định tại các Hợp đồng thế chấp sau:
- + Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 6669.HĐTC.2011 quyển số: 04.TP/CC-SCC/HĐTC ngày 22/11/2011 tại Phòng C Thành phố Hà Nội giữa bên thế chấp là bà Nguyễn Thị M với bên nhận thế chấp là Ngân hàng E. Đối tượng thế chấp là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 233, tờ bản đồ số 09 tại địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BG 547404, số vào sổ cấp GCN: 00465 do UBND huyện C cấp ngày 14/11/2011) mang tên bà Nguyễn Thị M.
- + Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 6671.2011/HĐTC quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 22/11/2011 tại Phòng công chứng số G Thành phố Hà Nội giữa bên thế chấp là ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H, anh Trịnh Bá T3, anh Trịnh Bá Đ1 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng E. Đối tượng thế chấp là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 111, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 176052, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000260 QSDÐ/439 QĐUB do UBND huyện C cấp ngày 28/12/2001) mang tên hộ ông Trịnh Bá K.
- + Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 6667.2011/HĐTC quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐTC ngày 22/11/2011 tại Phòng công chứng số G Thành phố Hà Nội giữa bên thế chấp là ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Tiến D1, chị Nguyễn Thị D2 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng E. Đối tượng thế chấp là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 94, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 170130, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000334 QSDÐ/439 QÐ UB do UBND huyện C cấp ngày 26/12/2001) mang tên hộ ông Nguyễn Tiến D.
[2.4]. Xét tính pháp lý của các Hợp đồng thế chấp: Các Hợp đồng thế chấp đều có nội dung và hình thức tuân thủ đúng quy định tại Điều 343 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 130 Luật Đất đai; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm. Theo đó, các thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật để thi hành.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trịnh Bá K và ông Nguyễn Tiến D có ý kiến cho rằng.
Gia đình ông Trịnh Bá K và gia đình ông Nguyễn Tiến D không biết bà Nguyễn Thị M là ai. Năm 2011 gia đình ông Trịnh Bá K và gia đình ông Nguyễn Tiến D đều cần đến tiền nên có nhờ bà Trịnh Thị H3 là người ở thôn T, xã T, huyện C vay tiền hộ. Gia đình ông K vay số tiền là: 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Gia đình ông D vay số tiền là: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Khi vay, hai gia đình (gia đình ông K và gia đình ông D) thoả thuận với bà Trịnh Thị H3 là vay trong thời hạn 36 tháng thì trả hết tiền gốc còn tiền lãi thì trả hàng tháng. Đến nay, gia đình ông K, bà H đã trả hết số tiền gốc và tiền lãi còn gia đình ông D thì chưa trả cho bà H3. Ông Trịnh Bá K và ông Nguyễn Tiến D thừa nhận, trước khi được bà H3 cho vay tiền, thì gia đình ông K và gia đình ông D đã cùng với bà H3 đi ra H ký vào nhiều giấy tờ. Khi ký, các thành viên trong gia đình ông K và gia đình ông D không được đọc các giấy tờ đó và nghĩ là chỉ vay ít tiền nên đã ký. Ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1 đã được Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ cho xem Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tại Phòng C Thành phố Hà Nội và Đơn đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C thì ông K, bà H, ông D, bà H1 đều thừa nhận đúng là chữ ký của những thành viên trong gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc vay mượn tiền giữa gia đình ông K và gia đình ông D đối với người tên là Trịnh Thị H3 là quan hệ vay mượn tiền giữa cá nhân với cá nhân. Trong Hợp đồng tín dụng và các hợp đồng thế chấp giữa các thành viên trong hộ gia đình ông K và hộ gia đình ông D với Ngân hàng E chỉ thể hiện hộ gia đình ông K và hộ gia đình ông D thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất của gia đình để bảo đảm cho khoản vay của bà Nguyễn Thị M – Chủ hộ kinh doanh. Do vậy, việc các thành viên trong hộ gia đình ông K và hộ gia đình ông D ký hợp đồng thế chấp là hợp pháp nên phải có trách nhiệm bảo đảm nghĩa vụ tín dụng của bà Nguyễn Thị M – Chủ hộ kinh doanh đối với Ngân hàng E. Ngoài lời khai của ông Trịnh Bá K và ông Nguyễn Tiến D thì các ông không đưa ra được căn cứ nào khác để chứng minh về việc đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình cho người tên là Trịnh Thị H3 nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Do đó, trong trường hợp gia đình ông K và gia đình ông D có căn cứ chứng minh việc giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình cho người tên là Trịnh Thị H3 để nhờ bà H3 vay tiền mà có tranh chấp thì gia đình ông K và gia đình ông D có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác nếu các bên có yêu cầu.
Do vậy, Ngân hàng E được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm trong trường hợp bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tín dụng là có căn cứ nên được chấp nhận. Do đó, trong trường hợp bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng E, Ngân hàng E có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, xử lý, phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Cụ thể tỷ lệ phạt mại đối với từng tài sản như sau:
- + Kê biên, phát mại Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 233, tờ bản đồ số 09 tại địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BG 547404, số vào sổ cáp GCN: 00465 do UBND huyện C cấp ngày 14/11/2011) mang tên bà Nguyễn Thị M.
Để thu hồi số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 19/08/2024 tổng số tiền là: 3.320.048.918 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ, ba trăm hai mươi triệu, không trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm mười tám đồng). Trong đó: Nợ gốc là: 926.362.205 đồng; lãi trong hạn là: 226.771.122 đồng; lãi quá hạn là: 2.166.915.591 đồng và khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kể từ ngày 20/08/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E).
Tại thời điểm xét xử sơ thẩm: Trên thửa đất số thửa đất số 233, tờ bản đồ số 09 diện tích 705m² tại địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên bà Nguyễn Thị M không có ai sinh sống trên đất.
Theo đó: Bà Nguyễn Thị M cùng những người đang sinh sống trên thửa đất (nếu có phát sinh thêm) có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.
- + Kê biên, phát mại Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 111, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 176052, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000260 QSDÐ/439 QĐUB do UBND huyện C cấp ngày 26/12/2001) mang tên hộ ông Trịnh Bá K.
Để thu hồi số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 19/08/2024 tổng số tiền là: 2.341.508.184 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, ba trăm bốn mươi mốt triệu, năm trăm linh tám nghìn, một trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc là: 653.329.134 đồng; lãi trong hạn là: 159.933.318 đồng; lãi quá hạn là: 1.528.245.732 đồng và khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kể từ ngày 20/08/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E).
Tại thời điểm xét xử sơ thẩm: Trên thửa đất số 111, tờ bản đồ số 18 diện tích 420m² đất tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên Hộ ông Trịnh Bá K có: Ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H và con trai là Trịnh Bá Đ1 đang sinh sống trên đất.
Theo đó: Ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H, anh Trịnh Bá Đ1 cùng những người đang sinh sống trên thửa đất (nếu có phát sinh thêm) có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.
- + Kê biên, phát mại Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 94, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 170130, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000334 QSDÐ/439 QÐ UB do UBND huyện C cấp ngày 28/12/2001) mang tên hộ ông Nguyễn Tiến D.
Để thu hồi số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 19/08/2024 tổng số tiền là: 5.434.395.860 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ, bốn trăm ba mươi tư triệu, ba trăm chín mươi năm nghìn, tám trăm sáu mươi đồng). Trong đó: Nợ gốc là: 1.516.308.661 đồng; lãi trong hạn là: 371.188.522 đồng; lãi quá hạn là: 3.546.898.677 đồng và khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kể từ ngày 20/08/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E).
Tại thời điểm xét xử sơ thẩm: Trên thửa đất số: 94, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên hộ ông Nguyễn Tiến D có: Ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Tiến D1 đang sinh sống trên đất.
Theo đó: Ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Tiến D1, chị Nguyễn Thị D2 cùng những người đang sinh sống trên thửa đất (nếu có phát sinh thêm) có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại các tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP X, bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X.
4. Về án phí:
+ Bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải chịu 119.095.953 đồng (Bằng chữ: Một trăm mười chín triệu, không trăm chín mươi năm nghìn, chín trăm năm mươi ba đồng) án phí Kinh doanh Thương mại sơ thẩm.
+ Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E) được hoàn trả số tiền 58.800.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi tám triệu, tám trăm nghìn đồng) dự phí đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/23 số 0001660 ngày 20/12/2023) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo:
+ Ngân hàng TMCP X; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Tiến D1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Bị đơn - Bà Nguyễn Thị M – Chủ Hộ kinh doanh; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trịnh Bá Đ1, chị Nguyễn Thị D2, ông Vương Công T4, bà Nguyễn Thị M1, bà Vũ Thị R, anh Vũ Công T5, anh Vũ Công T6 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 342, 343, 355, 357, 471, 474, 476 và các Điều từ 715 đến 721 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ các Điều 113, 130 Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ các Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003; Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E) đối với bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh về yêu cầu trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn và dành quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
- Buộc bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP X(Ngân hàng E)số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số: 1703-LAV-201102684 ngày 23/11/2011; khế ước nhận nợ số: 1703 -LDS-201103031 ngày 23/11/2011 tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 19/08/2024 là: 11.095.952.962 đồng (Bằng chữ: Mười một tỷ, không trăm chín mươi năm triệu, chín trăm năm mươi hai nghìn, chín trăm sáu mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc: 3.096.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 757.892.962 đồng; nợ lãi quá hạn: 7.242.060.000 đồng.
Kể từ ngày 20/08/2024, bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từng lần số: 1703-LAV-201102684 ngày 23/11/2011; khế ước nhận nợ số: 1703 -LDS-201103031 ngày 23/11/2011; biên bản sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ ngày 21/12/2011, biên bản sửa đổi (lần 2) bổ sung Hợp đồng tín dụng số 1703-LAV-201102684 và khế ước nhận nợ số: 1703-LDS-201103031 ngày 17/09/2012 trên số tiền gốc còn nợ cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E).
- Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E), Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E) có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Cụ thể tỷ lệ phạt mại đối với từng tài sản như sau:
- + Kê biên, phát mại Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 233, tờ bản đồ số 09 tại địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 547404, số vào sổ cấp GCN: 00465 do UBND huyện C cấp ngày 14/11/2011) mang tên bà Nguyễn Thị M.
Để thu hồi số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 19/08/2024 tổng số tiền là: 3.320.048.918 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ, ba trăm hai mươi triệu, không trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm mười tám đồng). Trong đó: Nợ gốc là: 926.362.205 đồng; lãi trong hạn là: 226.771.122 đồng; lãi quá hạn là: 2.166.915.591 đồng và khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kể từ ngày 20/08/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E).
Tại thời điểm xét xử sơ thẩm: Trên thửa đất số thửa đất số 233, tờ bản đồ số 09 diện tích 705m² tại địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên bà Nguyễn Thị M không có ai sinh sống trên đất.
Theo đó: Bà Nguyễn Thị M cùng những người đang sinh sống trên thửa đất (nếu có phát sinh thêm) có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.
- + Kê biên, phát mại Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 111, tờ bản đồ số 18 tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 176052, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000260 QSDÐ/439 QĐUB do UBND huyện C cấp ngày 26/12/2001) mang tên hộ ông Trịnh Bá K.
Để thu hồi số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 19/08/2024 tổng số tiền là: 2.341.508.184 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, ba trăm bốn mươi mốt triệu, năm trăm linh tám nghìn, một trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc là: 653.329.134 đồng; lãi trong hạn là: 159.933.318 đồng; lãi quá hạn là: 1.528.245.732 đồng và khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kể từ ngày 20/08/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E).
Tại thời điểm xét xử sơ thẩm: Trên thửa đất số 111, tờ bản đồ số 18 diện tích 420m² đất tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên Hộ ông Trịnh Bá K có: Ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H và con trai là Trịnh Bá Đ1 đang sinh sống trên đất.
Theo đó: Ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H, anh Trịnh Bá Đ1 cùng những người đang sinh sống trên thửa đất (nếu có phát sinh thêm) có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.
- + Kê biên, phát mại Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 94, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 170130, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000334 QSDÐ/439 QÐ UB do UBND huyện C cấp ngày 28/12/2001) mang tên hộ ông Nguyễn Tiến D.
Để thu hồi số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 19/08/2024 tổng số tiền là: 5.434.395.860 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ, bốn trăm ba mươi tư triệu, ba trăm chín mươi năm nghìn, tám trăm sáu mươi đồng). Trong đó: Nợ gốc là: 1.516.308.661 đồng; lãi trong hạn là: 371.188.522 đồng; lãi quá hạn là: 3.546.898.677 đồng và khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kể từ ngày 20/08/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E).
Tại thời điểm xét xử sơ thẩm: Trên thửa đất số: 94, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên hộ ông Nguyễn Tiến D có: Ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Tiến D1 đang sinh sống trên đất.
Theo đó: Ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Tiến D1, chị Nguyễn Thị D2 cùng những người đang sinh sống trên thửa đất (nếu có phát sinh thêm) có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại các tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP X, bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP X.
- + Kê biên, phát mại Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 233, tờ bản đồ số 09 tại địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sử sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 547404, số vào sổ cấp GCN: 00465 do UBND huyện C cấp ngày 14/11/2011) mang tên bà Nguyễn Thị M.
- Về án phí:
- + Bà Nguyễn Thị M - Chủ hộ kinh doanh phải chịu 119.095.953 đồng (Bằng chữ: Một trăm mười chín triệu, không trăm chín mươi năm nghìn, chín trăm năm mươi ba đồng) án phí Kinh doanh Thương mại sơ thẩm.
- + Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E) được hoàn trả số tiền 58.800.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi tám triệu, tám trăm nghìn đồng) dự phí đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/23 số 0001660 ngày 20/12/2023) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo:
- + Ngân hàng TMCP X; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Bá K, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Tiến D1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- + Bị đơn - Bà Nguyễn Thị M – Chủ Hộ kinh doanh; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trịnh Bá Đ1, chị Nguyễn Thị D2, ông Vương Công T4, bà Nguyễn Thị M1, bà Vũ Thị R, anh Vũ Công T5, anh Vũ Công T6 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Long |
Bản án số 13/2024/KDTM-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 13/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận đơn khởi kiện- tuyên bố bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ
