|
TOÀ ÁN ND QUẬN HOÀN KIỂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17/6/2024 “V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Hiệp
- Bà Nguyễn Minh Hương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 64/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/03/2024, về việc “Tranh chấp Ly hôn và nuôi con” - theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thanh H, sinh năm 1979
Hộ khẩu thường trú: Số B P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; hiện ở tại: Số H ngõ E đường H, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội - (Có mặt)
*Bị đơn: Anh Hà Tuấn H1, sinh năm 1975
Hộ khẩu thường trú: Số B P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội - (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H và lời trình bày của chị H tại Toà án như sau:
Quan hệ hôn nhân:
Chị và anh Hà Tuấn H1 tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình đồng ý, chị và anh H1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, Thành phố Hà Nội vào ngày 24/03/2005. Đến ngày 25/03/2005 anh chị tổ chức Lễ cưới.
Sau khi kết hôn, chị và anh H1 về chung sống tại số B P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội, là nhà của bố mẹ chị H.
Quá trình chung sống, vợ chồng chị hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính tình, cách sống, quan điểm sống không còn phù hợp. Anh H1 không quan tâm đến vợ con, mọi việc trong gia đình từ sinh hoạt chi tiêu đến việc các con học hành đều do một mình chị H gánh vác, anh H1 không chia sẻ giúp đỡ chị, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng.
Từ năm 2017 chị H, anh H1 chuyển về ở tại số H ngõ E đường H, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa. Cũng từ năm 2021 đến nay anh H1 đi làm xa, thi thoảng có gọi điện cho các con để hỏi thăm, anh không nói cho chị biết anh đang ở đâu.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H1 không còn, vợ chồng sống ly thân đã lâu. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hà Tuấn H1 để ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung:
Chị và anh H1 có hai con chung tên là Hà Tiến H2, sinh ngày 14/10/2007 và Hà Khánh D, sinh ngày 20/4/2009.
Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cháu H2 và cháu D, chị không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung:
Động sản và bất động sản:
Chị và anh H1 không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Công nợ chung:
Chị và anh H1 không vay nợ ai, không ai vay nợ anh chị, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Hà Tuấn H1: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H1, B H1 đến Tòa án để lấy lời khai, tham gia phiên họp chứng cứ và hòa giải, nhưng anh H1 đều vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án.
Tại phiên tòa:
* Nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H trình bày:
Chị vẫn giữ nguyên các yêu cầu như đã trình bày tại Tòa án là xin được ly hôn với anh Hà Tuấn H1. Về con chung, chị và anh H1 có hai con chung tên là Hà Tiến H2, sinh ngày 14/10/2007 và Hà Khánh D, sinh ngày 20/4/2009.
Sau khi ly hôn, chị xin được tiếp tục nuôi hai con và không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Tài sản chung gồm động sản và bất động sản, chị và anh H1 không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vay nợ chung, chị và anh H1 không vay nợ ai, không ai vay nợ vợ chồng chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị H không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn anh Hà Tuấn H1: Đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Việc thu thập chứng cứ, gửi các văn bản tố tụng cho đương sự, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đảm bảo đúng quy định. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Được nhận thông báo, quyết định và các văn bản do Tòa án giải quyết trong quá trình chuẩn bị xét xử theo đúng quy định, được quyền xem, sao chụp các tài liệu do Tòa án thu thập cũng như do các đương sự cung cấp, được quyền phát biểu, hỏi và tranh luận tại phiên tòa.
Đối với việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H đối với bị đơn anh Hà Tuấn H1, cho chị H được ly hôn với anh H1. Về con chung: Chị H và anh H1 có hai con chung là Hà Tiến H2, sinh ngày 14/10/2007 và Hà Khánh D, sinh ngày 20/4/2009. Sau khi ly hôn, giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Tiến H2 và Hà Khánh D. Chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con nên không xét.
Tài sản chung: Động sản và bất động sản chị H khai chị và anh H1 không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Công nợ chung: Chị H khai chị và anh H1 không vay nợ ai, không ai vay nợ anh chị, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng:
1.1 Về thẩm quyền: Xét thấy, nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm là nơi bị đơn anh Hà T Hải đăng ký hộ khẩu thường trú tại số B P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.2 Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn là một trong các tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.3. Về thủ tục tố tụng: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn anh Hà T Hải đăng ký hộ khẩu thường trú tại số B P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội, theo kết quả xác minh ngày 04/03/2024 của Công an phường P, quận H, Thành phố Hà Nội xác định anh Hà Tuấn H1 có đăng ký hộ khẩu tại B P nhưng hiện nay anh H1 không ăn ở, sinh hoạt tại địa chỉ trên khoảng hơn ba năm nay, chuyển đi đâu không rõ...”. Từ khoảng năm 2021 anh H1 không ăn ở, sinh hoạt tại địa chỉ trên. Đến nay, anh H1 ở đâu không rõ mà không thông báo nơi cư trú mới cho nguyên đơn và cơ quan, người có thẩm quyền là thuộc trường hợp “cố tình giấu địa chỉ” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 “trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung” và xác định địa chỉ của bị đơn anh Hà Tuấn H1 có hộ khẩu thường trú tại số B P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội là địa chỉ cư trú cuối cùng của anh H1 theo quy định tại khoản 3 Điều 5; Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy báo, Thông báo yêu cầu đương sự giao nộp ý kiến bằng văn bản, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng tại phiên tòa bị đơn anh Hà Tuấn H1 vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ và đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H xin ly hôn với bị đơn anh Hà Tuấn H1:
2.1 Quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Thanh H và anh Hà Tuấn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, và có đăng ký kết hôn ngày 24/03/2005 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào lời trình bày của chị H cho thấy: Quá trình chung sống, vợ chồng chị hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt và cuộc sống gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung nên cuộc sống không hạnh phúc. Anh H1 không quan tâm đến vợ con, kinh tế gia đình đều do một mình chị H gánh vác, anh H1 không quan tâm chia sẻ giúp đỡ chị. Vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2021 đến nay, hai bên không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Anh H1 đi làm xa nhà, thỉnh thoảng có gọi điện cho các con nhưng anh H1 không nói cho các con và gia đình biết hiện anh đang ở đâu.
Về phía anh H1, sau khi thụ lý vụ án Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng, Thông báo thụ lý vụ án, Giấy báo, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh H1, báo anh H1 đến Tòa án làm việc nhưng anh H1 không đến Toà án và không có ý kiến gì về việc chị H xin ly hôn anh H1.
Ngoài lời khai của chị H; Tòa án đã xác minh gia đình và địa phương thể hiện chị H và anh H1 có xảy ra mâu thuẫn, anh chị sống ly thân đã lâu.
Xét, mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 đã kéo dài. Đến nay, tình cảm vợ chồng không còn. Chị H xin ly hôn, Tòa án đã báo cho anh H1 nhưng anh H1 không đến Tòa án để hòa giải. Điều đó thể hiện anh H1 bỏ mặc, không có ý thức hàn gắn đời sống vợ chồng. Cuộc sống chung của anh chị thực sự không còn tồn tại, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc nhưng không đạt được. Nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi bên.
Hội đồng xét xử thấy khả năng đoàn tụ của chị H và anh H1 không còn nên cần chấp nhận Đơn xin ly hôn của chị H đối với anh H1 là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Về con chung: Chị H và anh H1 có hai con chung là Hà Tiến H2, sinh ngày 14/10/2007 và Hà Khánh D, sinh ngày 20/4/2009.
Xét thấy, nguyện vọng nuôi con là hoàn toàn chính đáng của người làm cha làm mẹ, nhưng việc giao con cho ai nuôi phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con.
Thực tế hiện nay cháu H2 và cháu D đang ở với chị H. Từ năm 2021 đến nay anh H1 đi làm không về nhà, không có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H2 và cháu D. Do đó, giao cháu H2 và cháu D cho chị H nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Xét, đây là sự tự nguyện của chị H không trái pháp luật và phù hợp với Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Tòa án chấp nhận.
[4]. Về tài sản chung:
Động sản và bất động sản: Chị H khai chị và anh H1 không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xét.
[5]. Về công nợ chung: Chị H khai chị và anh H1 không vay nợ ai, không ai vay nợ anh chị, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xét.
[6]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào:
- - Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 28; Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Thanh H đối với anh Hà Tuấn H1.
Quan hệ hôn nhân:
Chị Vũ Thị Thanh H được ly hôn anh Hà Tuấn H1.
2. Về con chung: Chị H và anh H1 có hai con chung là Hà Tiến H2, sinh ngày 14/10/2007 và Hà Khánh D, sinh ngày 20/4/2009.
Sau khi ly hôn, giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hà Tuấn H1 và Hà Khánh D, kể từ tháng 6 năm 2024 cho đến khi cháu H1, cháu D đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H1 cho đến khi chị H có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Anh H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung:
+ Động sản: Chị H khai chị và anh H1 không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Toà án không xét.
+ Bất động sản: Chị H khai chị và anh H1 không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Toà án không xét.
4. Về vay nợ chung: Chị H khai chị và anh H1 không vay nợ ai, không ai vay nợ anh chị, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Toà án không xét.
5. Án phí: Chị Vũ Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp - theo Biên lai số 0006319 ngày 05/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H, vắng mặt bị đơn anh Hà Tuấn H1. Tòa án báo chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị đơn anh Hà Tuấn H1 vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hiền Hòa |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Thanh H và Hà Tuấn H tranh chấp ly hôn và nuôi con
