TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17 - 4 - 2024 V/v “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Môn;
2. Bà Hoàng Thị Hồng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên
Trong ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/3/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ngõ N, thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Phương Văn H1, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số nhà G, ngõ C, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 23 tháng 01 năm 2024 nguyên đơn là chị Phan Thị H trình bày:
Năm 2018 chị và anh Phương Văn H1 được Tòa án giải quyết ly hôn. Tại thời điểm giải quyết ly hôn, Tòa án giải quyết về con chung như sau: Anh Phương Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phương Văn M, sinh ngày 01/9/2004 và Phương Văn H2, sinh ngày 14/8/2008; chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phương Văn Đ, sinh ngày 14/8/2008. Tôi phải cấp dưỡng nuôi cháu Phương Văn M cho anh H1 số tiền 1.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 12/2018 đến khi cháu M đủ 18 tuôi. Cách đây vài năm anh Phương Văn H1 đã kết hôn và có con riêng nên anh H1 không còn quan tâm đến cháu H2. Đã nhiều lần anh H1 chửi và đuổi cháu H2 khỏi nhà. Ngày 13/8/2023 chị đón cháu H2 về tổ chức sinh nhật cho cháu, tối hôm đó khi cháu H2 về nhà thì anh H1 đánh cháu và bắt cháu gọi điện cho chị để đón cháu về nuôi nên chị đã đến nhà anh H1 đón cháu H2 về nuôi từ đó đến nay. Kể từ khi cháu H2 về ở với chị anh H1 không hỏi thăm, quan tâm và không có trách nhiệm gì với cháu H2. Hiện tại cháu H2 đã lớn và có nguyện vọng về ở với chị nên chị yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, giao cháu Phương Văn H2 cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị yêu cầu anh Phương Văn H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H2 số tiền 2.000.000 đồng/tháng kể từ thời điểm Tòa án giao cháu H2 cho chị nuôi dưỡng đến khi cháu H2 đủ 18 tuổi.
Sau khi Toà án thụ lý vụ án, tại bản tự khai ghi ngày 13 tháng 3 năm 2024, biên bản ghi lời khai ngày 27 tháng 3 năm 2024 và quá trình hoà giải vụ án, chị H giữ nguyên yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Phương Văn H2 và thay đổi yêu cầu về mức cấp dưỡng nuôi con, chị yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi cháu H2 số tiền 1.000.000đ/tháng (Một triệu đồng một tháng).
* Tại bản tự khai ngày 12 tháng 3 năm 2024 và biên bản ghi lời khai ngày 27 tháng 3 năm 2024, bị đơn là anh Phương Văn H1 trình bày:
Năm 2018 anh và chị H được Toà án giải quyết cho ly hôn. Khi ly hôn, cháu Phương Văn H2, sinh ngày 14/8/2008 là con chung của anh và chị H được Toà án giao cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Nay chị H yêu cầu được nuôi cháu H2 và yêu cầu anh phải cấp dưỡng tiền nuôi cháu H2 số tiền 1.000.000đ/tháng (một triệu đồng một tháng), thì anh không đồng ý vì chị H không đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu H2, chị H không để ý đến cháu, thường xuyên để cháu đi chơi cả đêm đến gần sáng mới về; cháu H2 tính cách rất nghịch ngợm, hư đốn, dù còn bé đã hút thuốc lá điện tử và thường xuyên chơi đàn đúm bạn bè xấu; chị H rất chiều con và không quan tâm, không thể quản được cháu H2, dễ làm cháu bị sa vào con đường hư hỏng. Tháng 6 năm 2023 do cháu H2 có hành vi hỗn láo, anh có tát cháu một cái nên cháu đã bỏ về ở với chị H đến nay, thi thoảng gia đình có công việc thì cháu H2 mới về nhà anh. Anh là vẫn có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con và mong muốn cháu H2 về ở với anh để anh dạy dỗ, quản lý cháu. Tuy nhiên do cháu H2 đã lớn, có quan điểm của riêng mình, nếu cháu có nguyện vọng được ở với chị H thì anh cũng tôn trọng ý kiến của cháu. Việc chị H yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi cháu H2 1.000.000đ/tháng (một triệu đồng một tháng) anh cũng không đồng ý vì chị H muốn nuôi cháu H2 thì tự phải lo cho cháu H2. Hiện tại anh đang làm lao động tự do, thu nhập khoảng 5.000.000đ/tháng (năm triệu đồng một tháng), anh không có tài sản gì khác. Anh đã lập gia đình mới vào cuối năm 2019 và đã có thêm 01 con đã hơn 2 tuổi. Vợ anh hiện làm công nhân may, thu nhập khoảng 5.000.000đ/tháng (năm triệu đồng một tháng).
* Tại biên bản ghi lời khai của cháu Phương Văn H2 ngày 19 tháng 3 năm 2024, cháu H2 trình bày: Cháu là con bố Phương Văn H1, con mẹ Phan Thị H. Trước đây cháu học trường Cao đẳng K – địa chỉ: Đường T, phường T, thành phố B, cháu đã nghỉ học từ đầu tháng 02/2024. Lý do nghỉ học là do cháu không thích học. Hiện tại cháu đang ở với mẹ cháu nên từ khi cháu nghỉ học cháu ở nhà và phụ mẹ dọn dẹp nhà cửa. Từ khi bố mẹ cháu ly hôn thì cháu ở cùng bố cháu, đến ngày 14/8/2023 thì cháu về ở với mẹ cháu. Lý do cháu về ở với mẹ vì ngày 13/8/2023 bố cháu vào facebook của cháu tự ý chặn cuộc gọi và tin nhắn của mẹ con cháu, ngày 14/8/2023 cháu hỏi bố cháu tại sao lại làm như vậy thì bố cháu chửi và tát cháu 01 cái, bố cháu bảo cháu gọi mẹ cháu xuống đón cháu về nên cháu đã gọi mẹ cháu đón về ở cùng từ đó đến nay. Sau khi về ở với mẹ thi thoảng cháu có về thăm bố và ông bà nội, cháu vẫn đi học hàng ngày bằng xe máy đến khi nghỉ học. Từ khi cháu về ở với mẹ thì việc đóng học, nuôi ăn ở là do mẹ cháu. Bố cháu không quan tâm gì đến cháu nữa. Nay cháu có nguyện vọng được về ở với mẹ cháu vì bố cháu hay chửi cháu. Mẹ cháu đã lập gia đình mới, cháu về ở chung với mẹ và dượng nhưng dượng không có hành vi gì đánh đập, chửi bới cháu bao giờ. Bố cháu cũng đã lập gia đình, mẹ kế cũng có lúc mắng cháu, có lúc do cháu hư mà bố và mẹ kế mắng cháu nhưng cũng có lúc cháu không có lỗi gì họ cũng chửi bới cháu.
* Ngày 27 tháng 3 năm 2024, Toà án tiến hành làm việc với chị Nguyễn Thị H3 (vợ anh Phương Văn H1), chị H3 trình bày: Chị và anh H1 kết hôn cuối năm 2019. Ngay sau khi kết hôn chị về chung sống cùng anh H1 và 02 con riêng của anh H1 (là cháu Phương Văn H2 và Phương Văn M). Quá trình chung sống từ đó đến nay, giữa chị và các con riêng của anh H1 không xảy ra mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, cháu H2 đang ở độ tuổi mới lớn rất ngang bướng. Cháu rất lười biếng, không chịu phụ giúp bố mẹ việc nhà, khi bố mẹ nhắc nhở thì cháu tỏ thái độ, có lần chị bảo cháu nấu cơm cháu còn cởi áo ra thách thức và bảo “trưa đợi thằng này nấu cơm cho mà ăn” nên anh H1 tức quá tát cho 2 cái. Ngoài ra còn nhiều lần khác cháu tỏ thái độ hỗn láo với bố mẹ. Dù còn bé nhưng cháu đã sử dụng thuốc lá điện tử được khoảng 02 năm nay và chơi với bạn xấu. Anh H1 cũng rất nghiêm khắc dạy dỗ cháu nhưng cũng chỉ được phần nào. Từ tháng 8 năm 2023 chị Phan Thị H đón cháu H2 về sinh sống cùng cho đến nay. Nay chị và anh H1 vẫn mong muốn cháu H2 về ở cùng anh chị để anh H1 giáo dục cháu lên người. Tuy nhiên do cháu cũng đã lớn, sẽ có quan điểm của riêng cháu. Do vậy chị đề nghị Toà án giải quyết theo nguyện vọng của cháu H2 để đảm bảo quyền lợi cho cháu. Anh H1 làm nghề tự do, thu nhập khoảng 5.000.000đ/tháng (Năm triệu đồng một tháng). Vợ chồng chị hiện có 01 con chung, cháu đã hơn 02 tuổi. Chị đang làm công nhân may, thu nhập mỗi tháng khoảng 5.000.000đ/tháng (Năm triệu đồng một tháng). Vợ chồng chị có chỗ ở ổn định.
* Toà án tiến hành làm việc với tổ trưởng tổ dân phố H, phường T, thành phố B (ông Hà Đức T) để xác minh về thu nhập của anh Phương Văn H1, ông T cung cấp như sau: Anh H1 là công dân cư trú tại địa phương. Hiện nay anh H1 đang làm lao động tự do, cụ thể là làm cơ khí, công việc có ổn định không thì ông không biết. Anh H1 đã lập gia đình mới và có con, anh H1 cũng đang phải nuôi bố già, yếu. Thu nhập hàng tháng của anh H1 và mức thu nhập bình quân trên người tại địa phương ông không nắm được.
* Toà án tiến hành làm việc với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B (bà Dương Thị H4) để xác minh về thu nhập bình quân theo đầu người tại địa phương, bà H4 cung cấp như sau: Hiện tại địa phương không thống kê và không quản lý mức thu nhập bình quân trên người và trên tháng nên không thể cung cấp cho Toà án các thông tin cần xác minh.
* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn trình bày: Chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Phương Văn H2. Giao cho chị nuôi cháu Phương Văn H2 và yêu cầu anh H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cùng chị nuôi cháu H2 số tiền 1.000.000đồng/tháng, kể từ tháng 5 năm 2024 đến khi cháu H2 đủ 18 tuổi. Chị xác định chi phí để đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng tháng của cháu H2 khoảng 2.500.000 đồng.
- Bị đơn trình bày: Anh không đồng ý giao cháu H2 cho chị Phan Thị H trực tiếp nuôi dưỡng vì chị H rất chiều con, không quản lý, dạy dỗ được con, dễ để cháu H2 sa vào con đường hư hỏng. Tuy nhiên, do cháu H2 có nguyện vọng muốn được ở với chị H nên anh phải đồng ý. Về việc chị H yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi cháu H2 số tiền 1.000.000đ/tháng anh không đồng ý vì chị H đón con về nuôi thì chị H phải tự có trách nhiệm với cháu. Nếu chị H không nuôi được cháu H2 thì để cháu H2 về ở với anh, anh sẽ tự nuôi cháu. Anh xác định chi phí để đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng tháng của cháu H2 khoảng 2.500.000 đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 3 Điều 28, Đ1 a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- + Giao cho chị Phan Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phương Văn H2, sinh ngày 13/8/2008. Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh H1 thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
- + Buộc anh Phương Văn H1 cấp dưỡng nuôi cháu Phương Văn H2 số tiền 1.000.000đồng/tháng, kể từ tháng 5/2024 đến khi cháu H2 đủ 18 tuổi.
- - Về án phí: Anh Phương Văn H1 phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu thay đổi nuôi con của chị Phan Thị H được chấp nhận và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con. Hoàn trả chị H số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp.
- - Kiến nghị, khắc phục: Không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Phan Thị H khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” được quy định tại Khoản 3 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của nguyên đơn:
Chị Phan Thị H và anh Phương Văn H1 kết hôn năm 2003, đến năm 2018 chị H và anh Hải ly h. Khi ly hôn, cháu Phương Văn M, sinh ngày 01/9/2004 và Phương Văn H2, sinh ngày 14/8/2008 được giao cho anh Phương Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng; cháu Phương Văn Đ, sinh ngày 14/8/2008 được giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh H1 nuôi cháu Phương Văn M số tiền là 1.000.000đồng/tháng (một triệu đồng một tháng) cho đến khi cháu Phương Văn M đủ 18 tuổi.
Quá trình nuôi dưỡng, kể từ ngày 14/8/2023 đến nay cháu H2 đã về ở với chị H, do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Năm 2019, anh H1 kết hôn với chị Nguyễn Thị H3 và đã có 01 con chung, ngoài ra 02 con riêng của vợ anh H1 (chị Nguyễn Thị H3) hiện đang chung sống cùng vợ chồng anh H1, do vợ chồng anh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Phan Thị H cũng đã kết hôn năm 2019 nhưng chưa có con chung, 02 con riêng của chồng chị H hiện đang chung sống cùng vợ chồng chị H, do vợ chồng chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Xét về điều kiện kinh tế, chỗ ở và thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng con của hai bên thì thấy: Chị Phan Thị H hiện đang làm lao động tự do (thu mua sắt vụn) tại địa phương, thu nhập khoảng 07 đến 08 triệu đồng một tháng, chị đã kết hôn năm 2019 đến nay chưa có con, chồng chị cũng làm lao động tự do, thu nhập khoảng 07 đến 08 triệu đồng một tháng, vợ chồng chị có chỗ ở ổn định cho cả gia đình. Anh H1 có chỗ ở ổn định, đã kết hôn và có 01 con chung, ngoài ra các con riêng của vợ anh H1 (02 con) đang sinh sống cùng vợ chồng anh H1, các cháu đang ở độ tuổi phải nuôi ăn học, bản thân anh H1 xác định anh làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có điều kiện để cấp dưỡng nuôi con. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy điều kiện về chỗ ở và thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì anh H1 và chị H tương đương nhau, nhưng về kinh tế thì chị H có điều kiện tốt hơn.
Xét về nguyện vọng của cháu Phương Văn H2 thì thấy: Cháu H2 có nguyện vọng được ở cùng chị H vì khi sống cùng anh H1 cháu có bị anh H1 mắng, đánh, tát; mẹ kế cũng có lần mắng cháu. Chị Phan Thị H đã lập gia đình mới nhưng bố dượng không đánh đập, chửi bới cháu bao giờ. Thực tế cháu H2 đã về sống với chị H từ tháng 8/2023 đến nay.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng các điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, giao cháu Phương Văn H2 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu H2 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của con chung. Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H1 thực hiện quyền, nghĩa vụ này. Trường hợp sau này anh H1 có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con bằng một vụ án khác theo quy định của Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2] Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu Phương Văn H2: Tại đơn khởi kiện chị H yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi cháu H2 với mức 2.000.000đồng/tháng. Tuy nhiên tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa chị H yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi cháu H2, chị đề nghị anh H1 cấp dưỡng nuôi cháu H2 với mức là 1.000.000đồng/tháng.
Xét yêu cầu về mức cấp dưỡng nuôi cháu H2 của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Cha mẹ đều có nghĩa vụ nuôi con chung, theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”; khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Anh H1 và chị H đều xác định chi phí thực tế để đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng tháng hiện tại của cháu H2 khoảng 2.500.000 đồng/tháng. Anh H1 đang là lao động tự do, có thu nhập khoảng 5.000.000 đồng/tháng. Cháu H2 mặc dù đã nghỉ học, nhưng để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cháu H2 thì cần buộc anh H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H2 với mức 1.000.000đồng/tháng kể từ tháng 5/2024 đến khi cháu H2 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là có căn cứ và phù hợp với quy định của khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.5] Về án phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử cần buộc anh H1 phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, trong đó: 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị H được chấp nhận và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm do phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[2.6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử cần tuyên các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
[2.7] Về đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H đối với anh Phương Văn H1 về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con:
- Giao cho chị Phan Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phương Văn H2, sinh ngày 14/8/2008 đến khi cháu H2 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Anh Phương Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung (cháu Phương Văn H2), không ai được cản trở anh H1 thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
- Buộc anh Phương Văn H1 cấp dưỡng nuôi cháu Phương Văn H2 số tiền 1.000.000đồng/tháng (Một triệu đồng một tháng). Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 5 năm 2024 đến khi cháu Phương Văn H2 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án. Nếu bên phải thi hành không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền phải thi hành án thì còn phải chịu tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí: Anh Phương Văn H1 phải chịu 600.000đồng (Sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Trả lại chị Phan Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001575 ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan |
Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
- Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thay đổi nuôi con sau ly hôn