|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 13/2024/DS-ST Ngày: 17-4-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Sâm
- Bà Hàng Ái Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Ngọc Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 179/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/QÐST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ: Số B đường L, phường T, Quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng: Ông Võ Xuân T – Phó phòng kế hoạch kinh doanh ngân hàng A chi nhánh N1 là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01-12-2022 và số 423/QĐ-NHNONT-NH ngày 11-10-2023. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Duy C, sinh năm: 1968. (vắng mặt)
Trú tại: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11-10-2023, các bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng N (Viết tắc là Ngân hàng) do ông Võ Xuân T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 04-7-2022 ông Nguyễn Duy C ký hợp đồng tín dụng số 4906-LVA-202202682 với Ngân hàng N chi nhánh huyện N1 vay số tiền 200.000.000 đồng, mục đích vay chăn nuôi và buôn bán, lãi suất trên giấy nhận nợ tại thời điểm ký hợp đồng là 10%/năm. Hạn trả nợ gốc kỳ đầu là ngày 03-7-2023, lãi trả theo kỳ trả nợ gốc, thời hạn vay 36 tháng.
Quá trình vay vốn ông Nguyễn Duy C vi phạm nghĩa vụ trả nợ, từ ngày vay vốn đến nay chưa trả tiền gốc và tiền lãi. Đến kỳ trả nợ gốc ngày 03-7-2023 ông C không trả nợ gốc và tiền lãi nên Ngân hàng chuyển nợ quá hạn ngày 04-7-2023.
Tính đến ngày 17-4-2024 số tiền ông Nguyễn Duy C còn nợ là: Tiền gốc 200.000.000 đồng, tiền lãi là 38.086.712 đồng. Để bảo đảm cho khoản vay trên ông Nguyễn Duy C không có thế chấp tài sản.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Duy C phải trả số tiền vay tính đến ngày 17-4-2024 là 238.086.712 đồng (Hai trăm ba mươi tám triệu, không trăm tám mươi sáu ngàn, bảy trăm mười hai đồng).
Ngân hàng yêu cầu ông C tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 4906-LVA-202202682 ngày 04-7-2022 kể từ sau ngày xét xử, ngày 18-4-2024.
Bị đơn ông Nguyễn Duy C vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông C theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ kiện này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại khu phố K, thị trấn K, huyện N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải được quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Duy C vắng mặt không có lý do, tại phiên tòa ông C vắng mặt. Điều này chứng tỏ ông C đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 4906-LVA-202202682 ngày 04-7-2022; Phương án sử dụng vốn kiêm báo cáo đề xuất cho vay ngày 04-7-2022; Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 05-7-2021; Bảng kê tính lãi của khách hàng Nguyễn Duy C, đủ cơ sở xác định Ngân hàng N – Chi nhánh huyện N1 đã cho ông Nguyễn Duy C vay số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng):
- Thời hạn vay: 36 tháng;
- Mục đích vay: Chăn nuôi và buôn bán;
- Lãi suất cho vay: 10%/năm;
- Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn;
- Hình thức trả nợ: lãi trả theo kỳ trả nợ gốc, gốc trả kỳ đầu ngày 03-7-2023 với số tiền 50.000.000 đồng;
Đến kỳ trả nợ gốc ngày 03-7-2023 ông Nguyễn Duy C không trả gốc và lãi cho Ngân hàng nên Ngân hàng đã chuyển khoản nợ của ông C sang nợ quá hạn kể từ ngày 04-7-2023.
Tính đến ngày xét xử hôm nay, ngày 17-4-2024, ông Nguyễn Duy C còn nợ Ngân hàng số tiền là 238.086.712 đồng (Hai trăm ba mươi tám triệu, không trăm tám mươi sáu ngàn, bảy trăm mười hai đồng). Tiền gốc còn nợ: 200.000.000 đồng, tiền lãi là 38.086.712 đồng.
Ngân hàng yêu cầu ông C tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 4906-LVA-202202682 ngày 04-7-2022 kể từ sau ngày xét xử, ngày 18-4-2024.
Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P với các điều 280, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 280, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
- Buộc ông Nguyễn Duy C phải trả cho Ngân hàng N số tiền vay còn nợ tính đến ngày 17-4-2024 là 238.086.712 đồng (Hai trăm ba mươi tám triệu, không trăm tám mươi sáu ngàn, bảy trăm mười hai đồng). Tiền gốc còn nợ: 200.000.000 đồng, tiền lãi là 38.086.712 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ngày 18-4-2024, ông Nguyễn Duy C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với số tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng 4906-LVA-202202682 ngày 04-7-2022 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí: Ông Nguyễn Duy C phải chịu 11.904.000 đồng (Mười một triệu, chín trăm lẻ bốn ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.650.000 đồng (Năm triệu, sáu trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001571 ngày 06-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Án xử công khai sơ thẩm, có mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thiên Quan |
Bản án số 13/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 13/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
