Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC KẠN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 13/2024/HS-PT
Ngày 16/7/2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Doanh và ông Đặng Đình Hưng.

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Ma Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 16/7/2024 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số : 17/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Dương Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

Bị cáo kháng cáo: Dương Văn L,tên gọi khác: Không); Sinh ngày 16 tháng 8 năm 1995 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: H'Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn L1 và bà Hoàng Thị S; vợ là Hoàng Thị H, sinh năm 1996 và có 02 con: con lớn sinh năm 2015 và con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án: Không; Tiền sự: 01. Ngày 23/5/2022 bị Trạm kiểm lâm L2, huyện N, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác rừng trái pháp luật, hình thức: Phạt tiền 7.500.000 đồng.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/6/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Trong vụ án còn có các bị cáo Dương Văn T, Ngọc Thị S1, Nông Thị H1, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/3/2023, Hạt Kiểm lâm huyện B phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, huyện B tiến hành kiểm tra, phát hiện tại lô 126, khoảnh 12, tiểu khu C thửa đất số 230 khu rừng C, thuộc thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn có hoạt động khai thác trái phép rừng sản xuất là rừng tự nhiên và san ủi trái phép vào rừng tự nhiên, cụ thể: Diện tích khai thác trái phép là 0,988 ha, lâm sản bị thiệt hại 219 cây gỗ tự nhiên thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII, tại hiện trường có 1078 khúc gỗ tự nhiên có chiều dài từ 1m đến 2m với tổng khối lượng 31,081m³ và 04 (bốn) cây gỗ tự nhiên chưa cắt thành khúc có tổng khối lượng 0,897m³,có đường kính từ 10cm đến 40cm. Tổng khối lượng gỗ thiệt hại do khai thác trái phép là 31,978m³; Diện tích san ủi trái phép vào rừng tự nhiên có chiều dài là 228m, rộng 2,5m với diện tích 570m², lâm sản bị thiệt hại là 21 cây gỗ tự nhiên thông thường nhóm V đến nhóm VIII, có tổng khối lượng 2,317m³.

Qua xác minh, xác định khu rừng tự nhiên bị khai thác trái phép và san ủi trái phép trên là thuộc quản lý của hộ Hoàng Lý P và Ngọc Thị S1. Trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đất LRTX, chức năng rừng tự nhiên sản xuất (Theo quy hoạch 03 loại rừng tại Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh B).

Quá trình điều tra xác định: Đầu năm 2023, vợ chồng Hoàng Lý P và Ngọc Thị S1 có nhu cầu bán 02 (hai) đồi cây mỡ tại khu C, thuộc thôn N, xã N, huyện B. Đến khoảng đầu tháng 02/2023, Hoàng Ngọc T1, sinh năm 1985 trú tại tổ K, phường H, thành phố B lên xem 02 đồi cây mỡ trên, quá trình dẫn T1 đi xem đồi cây mỡ, P chỉ ranh giới giữa đồi cây mỡ với đồi cây tự nhiên để T1 biết. Sau đó T1 cùng với Nông Thị H1 (là vợ của T1) thỏa thuận mua 02 (hai) đồi cây mỡ với giá 125.000.000₫ (một trăm hai mươi lăm triệu đồng). Mấy ngày sau T1 và H1 lên đưa trước số tiền 25.000.000đ cho bà S1, còn lại 100.000.000đ thống nhất khi khác thác xong sẽ đưa hết. Trước khi khai thác, T1 gọi Lường Anh T2 và Hoàng Chiến T3 là cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện B phụ trách địa bàn xã N vào xem 02 đồi cây mỡ mà T1 đã mua của S1 để xác định thuộc loại rừng gì có khai thác được không. Khi cùng T1 và H1 vào xem xong hai đồi cây mỡ, do xác định 02 đồi cây mỡ đó là rừng trồng thuộc rừng sản xuất nên T2 và T3 thông báo lại cho T1 và H1 biết, 02 đồi cây gỗ trên và các cây gỗ tạp mọc xen trong đồi cây mỡ khai thác được. Sau đó T1 thuê Bùi Anh T4, sinh năm 1992, trú tại thôn K, xã C, huyện B dùng máy xúc mở đường vào khu đồi cây mỡ đối diện nhà S1 để phục vụ việc khai thác cây mỡ. Quá trình mở đường thì S1 nhờ T1 mở đường vào khu rừng tự nhiên ở phía sau nhà, với mục đích để có đường đi lại và lấy củi. T1 đồng ý nên thuê T4 mở tiếp con đường vào khu rừng tự nhiên ở phía sau nhà S1, tiền mở đường vào khu rừng tự nhiên này sẽ được trừ vào số tiền 100.000.000₫ mà T1 đang nợ của Song. Khi mua được 02 đồi cây gỗ mỡ trên, T1 và H1 tìm thuê người khai thác 02 (hai) đồi cây mỡ gồm một nhóm người ở xã C, huyện B khai thác đồi cây mỡ đối diện nhà S1. Nhóm của Dương Văn T, Dương Văn L khai thác đồi cây mỡ ở phía sau nhà S1. Trước khi đi khai thác thuê, vào khoảng ngày

18/02/2023 Dương Văn T và Dương Văn L xuống xem các đồi cây mỡ mà T1 định thuê khai thác, quá trình xem thì T1 chỉ tay hai đồi cây mỡ đã mua và ranh giới hai đồi cây mỡ này để L và T khác lên xem. T1 bảo T và L khai thác cây mỡ thì khai thác cả các cây gỗ tự nhiên mọc xen trong rừng trồng vì T1 đã lo hết giấy tờ, thống nhất giá tiền công khai thác thuê là 170.000đ/1 Ster. Ngày 22/02/2023, T cùng một số người đến làm lán tại chân đồi cây mỡ phía sau nhà S1 để làm chỗ ăn nghỉ trong quá trình khai thác cây. Ngày 23/02/2023, nhóm của Dương Văn T, Dương Văn L đi khai thác thuê đồi cây mỡ cho Hoàng Ngọc T1 tại khu rừng C, thuộc thôn N, xã N, huyện B. Quá trình khai thác cây mỡ, T và L thay nhau sử dụng cưa máy để cắt đổ các cây mỡ, cây gỗ tạp mọc xen và cắt thành từng khúc, những người còn lại hộ nhau lao các khúc gỗ xuống chân đồi và vận chuyển đến vị trí tập kết để bốc gỗ lên xe. Trong thời gian khai thác thì Nông Thị H1 là người thường xuyên vào kiểm tra, giám sát việc khai thác cây và bốc cây mỡ lên xe chở đi. Đến trưa ngày 03/3/2023, H1 vào kiểm tra thấy nhóm của T khai thác cây mỡ sắp xong, do thấy khai thác cây mỡ được ít, sợ không có lãi nên H1 đi lên nhà S1 thỏa thuận về việc khai thác sang các cây gỗ tự nhiên ở đồi cây tự nhiên (sát đồi cây mỡ đã khai thác, phía sau nhà S1), thuộc lô 126, khoảnh 12, tiểu khu C thửa đất số 230, để trộn vào cây mỡ đem đi bán lấy tiền, khi bán sẽ trả thêm tiền cho S1. Do đang thiếu tiền làm nhà nên S1 đồng ý cho H1 khai thác các cây gỗ tự nhiên ở đồi tự nhiên phía sau nhà, nhưng không nói cụ thể khai thác bao nhiêu cây cũng không giới hạn để H1 khai thác đến đâu, giữa H1 và S1 không thỏa thuận cụ thể H1 sẽ đưa bao nhiêu tiền từ việc khai thác gỗ tự nhiên cho S1. Đến chiều ngày 03/3/2023, khi T, L và mọi người bốc cây mỡ lên xe, đang ngồi nghỉ ngơi thì Nông Thị H1 nói với T về việc khai thác các cây gỗ tự nhiên gần đồi cây mỡ đã khai thác để trộn vào cây mỡ đem đi bán, vừa nói H1 vừa chỉ tay lên khu đồi có cây tự nhiên. Lúc đó Dương Văn L ngồi ở ngay gần đó nên nghe, nhìn thấy việc H1 nói và chỉ tay lên khu đồi cây gỗ tự nhiên với T về việc khai thác gỗ tự nhiên, đến tối cùng ngày T nói với L hôm sau sẽ đi khai thác cây gỗ tự nhiên. Từ ngày 04/3/2023 đến sáng ngày 06/3/2023, T và L lên khu rừng tự nhiên mà H1 đã chỉ (ở ngay sát phía bên phải đồi cây mỡ đã khai thác) thay nhau sử dụng cưa máy, cắt đổ các cây gỗ tự nhiên, rồi cắt thành từng khúc có kích thước dài từ 1m đến 2m, với mục đích để lấy tiền công khai thác thuê. Lúc đó do các cây mỡ đã khai thác nhưng chưa lao xuống chân đồi, chưa vận chuyển hết ra vị trí tập kết nên những người còn lại trong nhóm của T vẫn tiếp tục lao các khúc cây mỡ xuống chân đồi và vận chuyển ra vị trí tập kết chờ bốc lên xe. Đến sáng ngày 06/3/2023, khi T và L đang khai thác các cây gỗ tự nhiên ở trên đồi, thì Nông Thị H1 đi lên và bảo T dừng khai thác gỗ tự nhiên do có Kiểm lâm vào kiểm tra, khi nào H1 gọi thì xuống làm tiếp. Sau đó T thông báo cho những người trong nhóm dừng khai thác cây và đi về nhà. Đối với các cây gỗ tự nhiên mà T và L khai thác chưa vận chuyển đến vị trí tập kết mà vẫn để nguyên tại hiện trường. Trước khi về thì T trả lại cưa máy và 02 con dao quắm cho Nông Thị H1 cất giữ. Đến ngày 07/3/2023, Hạt Kiểm lâm huyện B phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N tiến hành

kiểm tra khu rừng trên phát hiện có hoạt động khai thác lâm sản và sản ủi đất trái phép vào khu rừng tự nhiên thuộc quản lý của Ngọc Thị S1 và Hoàng Lý P nên đã tiến hành lập biên bản kiểm tra xác định lâm sản bị thiệt hại do khai thác là 219 cây gỗ tự nhiên thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII, tại hiện trường có 04 (bốn) cây gỗ tự nhiên chưa cắt thành khúc có tổng khối lượng 0,897m³ có đường kính từ 10cm đến 40cm, tổng khối lượng gỗ thiệt hại do khai thác trái phép là 31,978m³. Đất bị san ủi trái phép có chiều dài là 228m với diện tích 570m², lâm sản thiệt hại do san ủi là 21 cây gỗ tự nhiên thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII, với khối lượng là 2,317m³. Đồng thời tiến hành thu giữ vật chứng có liên quan theo quy định.

Ngày 21/3/2023 Hạt Kiểm lâm huyện B phối hợp cùng cơ quan chức năng có liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường. Ngày 12/5/2023 và ngày 18/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp cùng cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra. Kết quả khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo và các chứng cứ, tài liệu thu thập được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 27/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 31,978m³ gỗ tự nhiên thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII có giá 39.858.920₫ (Ba mươi chín triệu tám trăm năm mươi tám nghìn chín trăm hai mươi đồng); 21 cây gỗ tự nhiên thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII có giá 2.349.770đ (Hai triệu ba trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi đồng).

Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định đối tượng rừng và loài cây, bảng kê lâm sản, vị trí vật chứng được tập kết tại hiện trường được thu giữ, kết luận định giá tài sản, lời khai của Dương Văn L, Dương Văn T, Ngọc Thị S1, Nông Thị H1 và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để xác định:

Trong các ngày 04/3/2023 đến ngày 06/3/2023 tại lô 126, khoảnh 12, tiểu khu C thửa đất số 230 khu rừng C, thuộc thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn theo yêu cầu của Nông Thị H1, Dương Văn T đã cùng Dương Văn L dùng cưa máy cắt đổ các cây gỗ tự nhiên, rồi cắt thành từng khúc có kích thước dài từ 1m đến 2m. Dương Văn T và Dương Văn L cắt cây gỗ tự nhiên với mục đích để lấy tiền công khai thác thuê. Nông Thị H1 thỏa thuận trực tiếp mua cây gỗ tự nhiên với bà Ngọc Thị S1 với mục đích trộn lẫn với số lượng gỗ mỡ để bán thu lợi nhuận mà không xin phép cơ quan, tổ chức nào. Toàn bộ số cây gỗ tự nhiên bị cắt nằm trên thửa đất thuộc quyền quản lý của Ngọc Thị S1 (thuộc rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh, chức năng rừng tự nhiên sản xuất - Theo quy hoạch 03 loại rừng tại Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh B). Tổng số cây gỗ bị chặt là 219 cây gỗ tự nhiên thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII (số bị cắt khúc đã được mang ra khỏi hiện trường là 1078 khúc), tại hiện trường có 04 (bốn) cây gỗ tự nhiên chưa cắt thành khúc có tổng khối lượng

0,897m³ có đường kính từ 10cm đến 40cm, tổng khối lượng gỗ thiệt hại do khai thác trái phép là 31,978m³. Đất bị san ủi trái phép có chiều dài là 228m với diện tích 570m², lâm sản thiệt hại do san ủi là 21 cây gỗ tự nhiên thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII, với khối lượng là 2,317m³.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn đã áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 232; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58/BLHS. Xử phạt: Dương Văn Luân 2 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/4/2024, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút nội dung kháng cáo xin hưởng án treo, giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm: Chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58/BLHS. Xử phạt: Dương Văn L từ 20 đến 22 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo đảm bảo về chủ thể và thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên được HĐXX xem xét theo quy định.
  2. Tại phiên tòa, qua phần xét hỏi công khai bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên; Lời khai nhận phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Trong các ngày 04/3/2023 đến ngày 06/3/2023 tại lô 126, khoảnh 12, tiểu khu C thửa đất số 230 khu rừng C, thuộc thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn theo yêu cầu của Nông Thị H1, Dương Văn T đã cùng Dương Văn L dùng cưa máy cắt đổ các cây gỗ tự nhiên, rồi cắt thành từng khúc có kích thước dài từ 1m đến 2m. Dương Văn T và Dương Văn L cắt cây gỗ tự nhiên với mục đích để lấy tiền công khai thác thuê. Nông Thị H1 thỏa thuận trực tiếp mua cây gỗ tự nhiên với bà Ngọc Thị S1 với mục đích trộn lẫn với số lượng gỗ mỡ để bán thu lợi nhuận mà không xin phép cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Khu rừng bị khai thác gỗ trái phép thuộc lô 126, khoảnh 12, tiểu khu C, thửa đất số 230, trong đó diện tích bị khai thác trái phép là 0,988 ha - là rừng sản xuất tự nhiên, trạng thái rừng

gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi theo Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã N được phê duyệt tại quyết định số 1794/QĐ - UBND ngày 26/10/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh B, thuộc quyền quản lý của ông Hoàng Lý P, bà Ngọc Thị S1 và chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép khai thác. Thiệt hại về lâm sản với tổng khối lượng gỗ thông thường, tự nhiên thuộc nhóm V đến nhóm VIII. Tổng khối lượng gỗ thiệt hại do khai thác trái phép là 31,978m³, có tổng giá trị là 39.858.920 đồng (Ba mươi chín triệu, tám trăm năm mươi tám nghìn, chín trăm hai mươi đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Dương Văn L đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 232 của Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, HĐXX xét thấy:

Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, bị cáo nộp một giấy xác nhận việc bị cáo Dương Văn L, bị cáo Dương Văn T và bị cáo Ngọc Thị S1 đã cùng nhau tự nguyện mua cây giống trồng vào khu đất mà các bị cáo đã khai thác cây tự nhiên trái phép với mục đích khắc phục hậu quả, hiện nay số cây trồng trên diện tích đất này phát triển tốt, đã phủ xanh phần diện tích đất rừng bị khai thác trái phép. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả”. Ngoài ra, bị cáo còn nộp thêm một đơn đề nghị của Trưởng thôn nơi bị cáo cư trú, về việc xác nhận bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện khó khăn, gia đình thuộc họ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, không có nghề nghiệp ổn định, đang nuôi 02 con nhỏ sinh năm 2015 và 2017, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đơn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại cấp phúc thẩm bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới, bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo sống phụ thuộc chủ yếu vào việc đi làm thuê để lấy tiền công nuôi sống gia đình. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS, giảm một phần hình phạt cho bị cáo cũng là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo rút ngắn thời gian cải tạo sớm trở về chăm lo cho gia đình.

  1. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
  2. Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo bị cáo Dương Văn L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

  1. Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58/BLHS.

Xử phạt: Dương Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  1. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Dương Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  1. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - Công an huyện Bạch Thông;
  • - VKSND huyện Bạch Thông;
  • - TAND huyện Bạch Thông;
  • - Chi cục THADS huyện Bạch Thông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Quang Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 13/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn T “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger