|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2024/HS-PT-CTN Ngày 16 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hữu Giàu.
Các Thẩm phán: Bà Ngô Ngọc Phỉ; ông Nguyễn Hoàng Thám.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phan Ý Vy - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/2024/TLPT-HS-CTN ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P và Ngô Bảo P1; do có kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng V - Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng P và của bị cáo Ngô Bảo P1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Hoàng P (P), sinh ngày 09 tháng 6 năm 2007 tại T - An Giang. Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng V và bà Đỗ Thị D; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/12//2023 đến nay. (Có mặt)
- Ngô Bảo P1 (P), sinh ngày 11 tháng 01 năm 2007 tại T - An Giang. Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Bảo C và bà Nguyễn Thị Thúy H1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/01//2024 cho đến nay. (Có mặt)
- Ông Trần Phước T, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. (Có mặt)
- Ông Phan Thành T1, là Luật sư của Văn phòng luật sư Phan Thành T1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh A. (Có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hoàng P: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, nghề nghiệp: Làm thuê, là cha của bị cáo. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng P: Bà Lê Hồ Bích H, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. (Có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ngô Bảo P1: Bà Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, nghề nghiệp: Làm thuê, là mẹ của bị cáo. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Bảo P1:
Trong vụ án còn có các bị cáo Phan Bảo H2 (H), Lư Tuấn K (K, P2), Hồ Hữu T2; bị hại Nguyễn Phi H3; người có quyền, nghĩa vụ liên quan Lê Văn H4, Hồ Phát T3 nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 04/7/2023, Phan Bảo H2, Lư Tuấn K, Nguyễn Hoàng P, Ngô Bảo P1, Hồ Hữu T2 và Lê Văn H4 cùng uống bia tại nhà Bảo P1. Còn nhóm của Nguyễn Phi H3 gồm: Nguyễn Phi H3, Nguyễn Chí K1, Võ Hoàng Kỳ A, Hồ Văn D1, Lê Huỳnh Khánh Đ, Hồ Phát T3, cùng hai người bạn của T3 (không rõ họ, tên địa chỉ) đang uống rượu tại nhà T3. Trong lúc uống rượu, T3 và H4 nhắn tin điện thoại qua lại thách thức đánh nhau.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T3 nói với cho cả nhóm đi mua thức ăn, sau đó T3 mang theo 01 cây chĩa 3, điều khiển xe mô tô biển số 67B1 - 881.91 đến nhà của Bảo P1 (thuộc khóm L, phường L) để tìm đánh H4. Đến nơi, T3 cầm chĩa xông vào nhà nên H2, K, Hoàng P, Bảo P1 và T2 bỏ chạy, T3 cầm chĩa đâm trúng vào vùng mông của T2 và đuổi theo nhóm của H2, nghe tri hô "Công an đến" nên T3 bỏ chạy về nhà. Riêng, H3, K1, Kỳ A, D1, Khánh Đ không thấy T3 quay lại nên cùng bỏ đi đến bờ kè T ngồi nói chuyện.
Tức giận về việc bị T3 đuổi đánh, Nguyễn Hoàng P rủ H2, K, Bảo P1, T2 và H4 dùng hung khí tìm nhóm T3 đánh trả thù, cả nhóm đồng ý. H2 lấy cây chĩa 3 bằng kim loại, K lấy tuýp sắt đầu có hàn lưỡi dao, Hoàng P, Bảo P1 và H4 mỗi người lấy một con dao tự chế, T2 không mang theo hung khí; T2 điều khiển xe mô tô chở Hoàng P, B, K điều khiển xe mô tô chở H2, H4 cùng đi. Khi đến khu vực bờ kè T (thuộc Khóm L, phường L, thị xã T) gặp nhóm H3. Nghĩ rằng đây là nhóm của T3 nên H2, K, Hoàng P, Bảo P1, H4 cầm hung khí đuổi theo H3 cùng nhóm bạn, T2 ở lại trông xe. Khi bị đuổi H3 cùng nhóm bạn bỏ chạy. H3 chạy vào đường hẻm đối diện bảng “THỊ XÃ TÂN CHÂU” Huy, K, Hoàng P cầm hung khí đuổi theo H3. H2 chạy đến trước cầm chĩa 3 đâm về phía H3, H3 đưa hai bàn tay đỡ thì trúng vào lòng bàn tay, khi H3 dùng hai tay chụp giữ đầu mũi chĩa của H2, Hoàng P chạy đến cầm dao chém từ trên xuống, H3 buông chĩa và dùng tay đỡ. H2 tiếp tục cầm chĩa đâm về phía H3 trúng vào tay trái. K dùng tuýp sắt đầu có hàn lưỡi dao, Phúc M cầm dao chém về phía H3, H3 đưa hai tay lên đỡ nên bị chém trúng hai tay H3. Thấy H3 đã bị thương, H2 kêu K, Hoàng P dừng lại, cầm hung khí đi bộ đến chỗ T2. Riêng, H4 và Bảo P1 cầm hung khí đuổi theo Kỳ A, D1, Khánh Đ, K1 nhưng không đuổi theo kịp nên cầm hung khí quay lại chỗ T2. Sau khi gây thương tích cho H3 xong, cả nhóm cùng đi về nhà Bảo P1 cất giấu hung khí. H3 bị thương tích được đến Bệnh viện Đ1 điều trị thương tích.
* Căn cứ Kết luận giám định số: 618/23/KLTTCT-TTPY ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh A, đối với: Nguyễn Phi H3, sinh năm: 2006, ngụ: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
- Các kết quả chính:
Sẹo mặt trước trong 1/3 dưới cánh tay phải, kích thước 9,7 x 0,7cm, là sẹo có kích thước lớn, tỷ lệ là 03%, do vật sắc gây nên.
Sẹo mặt lưng bàn tay phải phía ngón IV – V, kích thước 03 x 0,3cm, là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ là 02%, do vật sắc gây nên.
Sẹo dạng vát mặt trước trong vòng ra sau 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước 08 x 0,4cm, là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ là 02%. Gây gãy dạng đứt đầu dưới xương trụ trái tương ứng với sẹo bên ngoài, tỷ lệ 03%. Do vật sắc gây nên.
Sẹo mặt lưng phía ngón IV – V, vòng qua mặt lòng phía mô út bàn tay trái, dạng vát, kích thước 11 x 0,3cm, là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ là 02%, do vật sắc gây nên.
Sẹo từ mặt ngoài đốt 2 ngón V bàn tay trái đến mô út ngón V bàn tay trái, kích thước 07 x 0,2cm, là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ là 02%, do vật nhọn gây nên.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Phi H3 là: 13%.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- 01 thanh kim loại màu trắng-đen dài 174 cm, cán bằng kim loại đen hình vuông dài 120,5cm, rộng 1,2 cm. Phần đầu hàn cố định 01 đoạn kim loại màu trắng hình trụ dài 53,5 cm, đầu mài nhọn đường kính 0,5 cm. Trên đoạn thân kim loại màu trắng cách nơi tiếp giáp cán 12 cm được hàn cố định 01 đoạn kim loại màu trắng có cùng đặc điểm dài 14 cm. (Do Phan Bảo H2 sử dụng và giao nộp);
- 01 cây dao tự chế dài 49,5 cm, thân dao bằng kim loại màu trắng dài 35 cm, rộng 5,7 cm, lưỡi sắc bén, cán dao bằng gỗ màu đen dài 14,5 cm, rộng 04 cm. (Do Nguyễn Hoàng P sử dụng; Lư Tuấn K giao nộp);
- 01 khúc kim loại tròn sơn màu trắng, phần đầu được hàn cố định mũi dao nhọn, lưỡi sắc. Tổng chiều dài 89 cm, phần cán dài 79 cm, phần lưỡi dao dài 10 cm. (Do Lư Tuấn K sử dụng và giao nộp);
- 01 ống tuýp sắt dạng hình ống màu xám, dài 01 mét, đường kính 0,3 cm. (Do Ngô Bảo P1 sử dụng và giao nộp).
- 01 cây kim loại màu trắng có 03 đầu nhọn, dài 74 cm. Phần cán bằng ống tuýp bằng kim loại dài 16,2 cm, phần mũi dài 57,8 cm. (Do Hồ Phát T3 sử dụng và giao nộp);
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Phi H3 đã nhận số tiền 12.000.000 đồng do bị can T2, Bảo P1, Hoàng P khắc phục, yêu cầu bồi thường thêm 42.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P và Ngô Bảo P1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 02 (hai) năm tù; Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Bảo P1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngoài ra, còn xử phạt bị cáo Phan Bảo H2 03 năm tù; bị cáo Lư Tuấn K 01 năm 9 tháng tù; bị cáo Hồ Hữu T2 01 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 03 năm. Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 03/5/2024 bị cáo Ngô Bảo P1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để phụ giúp cha mẹ, sửa chữa lỗi lầm và 08/5/2024 ông Nguyễn Hoàng V - Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng P, kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, 02 bị cáo khai nhận như đã khai nhận tại Cơ quan cảnh sát điều tra, cả 02 bị cáo đều thấy sai phạm của mình nhưng xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo ông Nguyễn Hoàng V - Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng P; chấp nhận kháng cáo của Ngô Bảo P1 sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo hướng giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ngô Bảo P1 từ 02 đến 03 tháng tù.
Luật sư và trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Ngô Bảo P1 phát biểu ý kiến cho rằng bị cáo có tham gia trong vụ án nhưng không tham gia gây thương tích cho bị hại, bị cáo là người chưa thành niên, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại 6.000.000 đồng, gia đình bị hại có làm đơn xin bải nại do đó đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Thúy H1 (mẹ bị cáo) cam kết sẽ thường xuyên theo dõi, giám sát, giáo dục con trở thành người tốt.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng P phát biểu ý kiến cho rằng khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức còn hạn chế, gia đình bị cáo là thành phần tốt ở địa phương có nhiều đóng góp từ thiện cho xã hội, bị cáo hiện đang học lớp 11B1 có xác nhận của nhà trường, do đó mong Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo cơ hội sửa chữa, tiếp tục được đi học, xin cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa ông Nguyễn Hoàng V (cha bị cáo) cam kết sẽ thường xuyên theo dõi, giám sát, giáo dục con trở thành người tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Bảo P1 và ông Nguyễn Hoàng V - Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng P nộp trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Ngô Bảo P1 và Nguyễn Hoàng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của hai bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 04/7/2023, nhóm bị cáo Ngô Bảo P1 gồm: Ngô Bảo P1, Phan Bảo H2, Lư Tuấn K, Nguyễn Hoàng P, Hồ Hữu T2 và Lê Văn H4 uống bia tại nhà Bảo P1. Còn nhóm của Hồ Phát T3 gồm: Hồ Phát T3, Nguyễn Phi H3, Nguyễn Chí K1, Võ Hoàng Kỳ A, Hồ Văn D1, Lê Huỳnh Khánh Đ, cùng hai người bạn của T3 (không rõ họ, tên địa chỉ) uông rượu tại nhà T3. Do có mâu thuẫn với nhau từ trước giữa Hồ Phát T3 và Lê Văn H4 nên dùng điện thoại nhắn tin thách thức đánh nhau.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T3 cầm cây chĩa 3 đến nhà của Bảo P1, dùng chĩa đâm trúng vào vùng mông của Hồ Hữu T2 khi nghe tri hô “Công an đến” nên T3 bỏ chạy về nhà.
Tức giận về việc bị T3 đuổi đánh, Nguyễn Hoàng P rủ H2, K, Bảo P1, T2 và H4 dùng hung khí tìm nhóm T3 đánh trả thù được cả nhóm đồng ý. Khi đến khu vực bờ kè T (thuộc Khóm L, phường L, thị xã T) gặp nhóm H3. Nghĩ rằng đây là nhóm của T3 nên H2, K, Hoàng P, Bảo P1, H4 cầm hung khí đuổi theo H3 cùng nhóm bạn, T2 ở lại trông xe. H3 bỏ chạy vào đường hẻm thì bị H2 cầm chĩa 3 đâm H3 đưa hai bàn tay đỡ thì trúng vào lòng bàn tay, Hoàng P cầm dao chém, còn K dùng tuýp sắt có gắn dao chém về phía H3. Hậu quả Nguyễn Phi H3 bị thương tật là 13%.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P và Ngô Bảo P1 về tội “Cố ý gây thương tích” điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất của vụ án, nhận thấy hành vi của các bị cáo trong vụ án là cùng thống nhất thực hiện tội phạm, dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho người khác, đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, trị an tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích, đánh giá vai trò, tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi từng bị cáo nhằm phân hóa tội phạm để có mức hình phạt tương xứng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo Nguyễn Hoàng P và Ngô Bảo P1 đều nhận tội và nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, do đó cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội.
[5] Tại phiên tòa hai bị cáo là Nguyễn Hoàng P và Ngô Bảo phúc kháng cáo xin được hưởng án treo, nhận thấy: Hai bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm nhưng với tính chất giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Hoàng P với vai trò khởi xướng, rủ rê tham gia gây thương tích cho bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là tương xứng tính chất, hành bi phạm tội. Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, an năn hối cải, phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo tích cực thăm hỏi, bồi thường thiệt hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên (16 tuổi 01 tháng). Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo; gia đình bị cáo có cung cấp giấy cảm tạ của Ban đình thần phường L, thị xã T; Giấy cảm tạ của Giáo hội P4 - Ban trì sự phường L có công đóng góp từ thiện; Giấy xác nhận của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện C thì bị cáo Nguyễn Hoàng P hiện đang là học sinh lớp 11B1 - Hệ giáo dục thường xuyên.
Đối với bị cáo Ngô Bảo P1 có tham gia cùng nhóm bạn thực hiện hành vi phạm tội, tuy không gây thương tích cho bị hại, nhưng với vai trò giúp sức, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 6 tháng tù là tương xứng tính chất, hành bi phạm tội. Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, an năn hối cải, phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo tích cực thăm hỏi, bồi thường thiệt hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo là người chưa thành niên (16 tuổi 06 tháng). Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại thêm số tiền 6.000.000 đồng và phía gia đình bị hại có làm giấy bải nại cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình hai bị cáo thuộc diện khó khăn về kinh tế, hai bị cáo đều là người chưa thành niên nên Hội đồng xét xử có xem xét và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa vi phạm, cho hai bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng V - Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng P và Ngô Bảo P1, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo hướng giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P và Ngô Bảo P1 nhưng cho hai bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách của bị cáo Nguyễn Hoàng P là 04 năm; thời gian thử thách của bị cáo Ngô Bảo P1 là 03 năm được tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
[6]. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của hai bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm h Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
- Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoàng p, bị cáo Ngô Bảo P1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng V - Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng P và bị cáo Ngô Bảo P1; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P và bị cáo Ngô Bảo P1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 02 (hai) năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm được tính từ ngày 16/7/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng P cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Bảo P1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm được tính từ ngày 16/7/2024.
Giao bị cáo Ngô Hoàng P3 cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật thi hành án hình sự.
Đã giải thích chế độ án treo cho hai bị cáo.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |
|
Ngô Ngọc Phỉ |
Lưu Hữu Giàu |
|
Nguyễn Hoàng Thám |
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
8
9
Bản án số 13/2024/HS-PT-CTN ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 13/2024/HS-PT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
