Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 13/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thụ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lâm Thành Danh
  2. Bà Lê Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mới – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 12/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 05 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Văn N, sinh ngày 10/6/1961; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 240 ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi bị bắt: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Dương Văn N1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T (đã chết); Vợ: Huỳnh Thị T1, sinh năm: 1963; Con: Có 04 người con (lớn nhất sinh năm: 1985, nhỏ nhất sinh năm: 1990); Anh, chị, em: có 02 người, tất cả đều không rõ năm sinh; Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Ngày 19/10/1994 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, tuyên phạt 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội: “Đánh bạc” theo Bản án số 24/HSST.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023 bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Huỳnh Thị T1, sinh ngày 01/01/1963; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 240 ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi bị bắt: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông: Huỳnh Văn P, Sinh năm: Không rõ (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Y, Sinh năm: Không rõ (đã chết); Chồng: Dương Văn N, sinh năm: 1961; Con: Có 04 người con (lớn nhất sinh năm: 1985, nhỏ nhất sinh năm:1990); Anh, chị, em: có 04 người tất cả đều không rõ năm sinh; Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2023 đến ngày 10/11/2023 bị tạm giam cho đến ngày 17/4/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

3. Họ và tên: Hồ Hữu Đ (Tên gọi khác: K), sinh ngày 18/9/1994; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: K; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở trước khi bị bắt: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Hồ Khắc M, sinh năm:1968; Con bà: Nguyễn Thị Ngọc P1, sinh năm: 1969; Vợ: Châu Thị Yến N2, sinh năm: 1993 (đã ly hôn); Con: Hồ Châu Đình Q, sinh năm: 2018; Anh, chị, em: có 01 người anh, sinh năm: 1989; Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023 đến ngày 09/11/2023 bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng:

  • + Nguyễn Đình B, sinh năm: 1995 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • + Hồ Thanh T2, sinh năm: 1992 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • + Nguyễn Thành T3, sinh năm: 2001 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • + Phạm Văn N3, sinh năm: 1993 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: E tổ F, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 55 phút, ngày 31/10/2023, Hồ Hữu Đ đang ở nhà tại ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đ đã điều khiển xe máy, biển số 59Z2–231.87 đến nhà Dương Văn N tại tổ A ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, để mua ma túy với số tiền 500.000 đồng, được 04 gói nylon bên ngoài quấn băng keo đen bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine, rồi Đ cầm 04 gói nylon chứa ma túy trên tay phải và điều khiển xe máy về nhà để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 05 phút cùng ngày, khi Đ đang lưu thông trên tuyến đường R thuộc tổ A ấp B, xã B, huyện C thì bị Công an huyện C kiểm tra bắt quả tang Hồ Hữu Đ có hành vi tàng trữ trái phép 04 gói nylon bên ngoài quấn băng keo đen bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine và tiến hành lập biên bản thu giữ các vật chứng có liên quan.

Qua lời khai nhận của Hồ Hữu Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C kết hợp cùng Công an xã B, huyện C đến nhà của Dương Văn N để tiến hành kiểm tra, xác minh thì phát hiện N còn đang ở nhà nên tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N và đã thu giữ tiền số tiền mà N vừa bán ma túy cho Đ và các vật chứng có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của N. Đồng thời áp giải Dương Văn N về trụ sở để điều tra làm rõ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Dương Văn N khai nhận: Ngày 20/10/2023, do có nhu cầu mua ma túy về để bán lại cho người khác nên khi người phụ nữ (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể), sử dụng số điện thoại 0907.787.xxx gọi vào điện thoại của Huỳnh Thị T1 là vợ của N, lúc này N nghe máy và người phụ nữ hỏi N có nhu cầu mua bán túy để bán nữa không, thì N đồng ý mua. Sau đó người phụ nữ xuống nhà N và bán cho N 01 gói ma túy với số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi mua ma túy, Huỳnh Thị T1 đã tiến hành phân nhỏ lẻ ra thành nhiều gói nhỏ, để N và T1 bán cho nhiều người khác. Đến khoảng 12 giờ ngày 31/10/2023, khi N vừa bán cho Hồ Hữu Đ 04 gói nylon bên ngoài quấn băng keo đen bên trong là ma túy loại Methamphetamine, với số tiền 500.000 đồng tại nhà của N, thì bị lực lượng công an kiểm tra, thu giữ tiền bán ma túy và các vật chứng có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Ngoài ra trước đó Dương Văn NHuỳnh Thị T1 còn 02 lần mua ma túy của người phụ nữ kể trên, với số tiền mỗi lần là 2.000.000 đồng (N mua 01 lần và T1 mua 01 lần), với mục đích để phân nhỏ lẻ bán lại cho người khác. Dương Văn N đã trực tiếp bán ma túy cho nhiều người tại nhà của N và T1 gồm:

  • + Hồ Hữu Đ mua 02 lần, số tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng, lần gần nhất là ngày 31/10/2023 với số tiền 500.000 đồng.
  • + Nguyễn Đình B, sinh năm: 1995, hộ khẩu thường trú: tổ A, ấp B, xã B, huyện C, mua 02 lần, mỗi lần số tiền 200.000 đồng, lần gần nhất là ngày 27/10/2023.
  • + Hồ Thanh T2, sinh năm: 1992, hộ khẩu thường trú: tổ B, ấp B, xã B, huyện C mua 01 lần vào ngày 31/10/2023 với số tiền 200.000 đồng.

Huỳnh Thị T1 đã trực tiếp bán ma túy cho nhiều người tại nhà của N và T1 gồm:

  • + Hồ Hữu Đ mua 02 lần, mỗi lần số tiền 200.000 đồng, lần gần nhất là ngày 30/10/2023.
  • + Hồ Thanh T2, sinh năm: 1992, hộ khẩu thường trú: tổ B, ấp B, xã B, huyện C mua từ 03 đến 04 lần, mỗi lần số tiền 200.000 đồng, lần gần nhất là ngày 21/10/2023.
  • + Nguyễn Thành T3, sinh năm: 2001, hộ khẩu thường trú: tổ A, ấp B, xã B, huyện C, mua từ 04 đến 05 lần, mỗi lần số tiền 200.000 đồng, lần gần nhất ngày 28/10/2023.
  • + Phạm Văn N3, sinh năm: 1993, hộ khẩu thường trú: 538 tổ F, ấp B, xã B, huyện C, mua từ 02 đến 03 lần, mỗi lần số tiền 200.000 đồng, lần gần nhất ngày 11/10/2023.
  • + Nguyễn Đình B, sinh năm: 1995, hộ khẩu thường trú: tổ A, ấp B, xã B, huyện C, mua từ 02 đến 03 lần, mỗi lần số tiền 200.000 đồng, lần gần nhất cách ngày bị bắt hơn 01 tháng.

Ngày 31/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hồ Hữu Đ tại ấp B, xã B, huyện C qua khám xét đã phát hiện và thu giữ một số dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy của Đ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tiến hành cho Dương Văn N, Huỳnh Thị T1, Hồ Hữu Đ và những người mua ma túy nhận dạng qua lại, kết quả xác định được N và T1 chính là người đã nhiều lần bán ma túy cho Đ và những người mua ma túy kể trên.

Ngày 31/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 04 gói nylon bên ngoài quấn bằng keo màu đen bên trong chứa tinh thể không màu đã thu giữ của Hồ Hữu Đ. Bản Kết luận giám định số: 12319/KL-KTHS ngày 08/11/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: “Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối 0,4278 gam (không phẩy bốn hai bảy tám gam), loại Methamphetamine”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Dương Văn N, Huỳnh Thị T1Hồ Hữu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Bản cáo trạng số: 15/CT-VKS-H.CG ngày 16 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố các bị cáo Dương Văn N, Huỳnh Thị T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Hồ Hữu Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Dương Văn N mức án từ 07 đến 08 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị T1 mức án từ 07 đến 08 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Hồ Hữu Đ mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh kinh tế các bị cáo khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về đánh giá chứng cứ:

Tại phiên tòa các bị cáo Dương Văn N, Huỳnh Thị T1Hồ Hữu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ thu giữ vật chứng, biên bản niêm phong vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận như sau: Khoảng 11 giờ 55 phút ngày 31/10/2023, tại nhà của Dương Văn N thuộc tổ A ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Dương Văn N đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,4278 gam cho Hồ Hữu Đ. Ngoài ra trước đó Dương Văn NHuỳnh Thị T1 đã nhiều lần mua ma túy về để phân nhỏ lẻ và bán lại cho nhiều người khác. Do đó Dương Văn NHuỳnh Thị T1 đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt phạm tội 02 lần trở lên. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đến khoảng 12 giờ 05 phút cùng ngày, trên tuyến đường R thuộc tổ A ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Hữu Đ đã bị Công an huyện C bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,4278 gam, với mục đích để sử dụng. Do đó Hồ Hữu Đ đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo Dương Văn N, Huỳnh Thị T1Hồ Hữu Đ là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và là tội phạm song các bị cáo vẫn thực hiện bất chấp pháp luật; hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Về tiền án, tiền sự và nhân thân các bị cáo: các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự. Riêng bị cáo Dương Văn N ngày 19/10/1994 bị Toà án nhân dân huyện Cần Giờ tuyên phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội: “Đánh bạc” theo Bản án số 24/HSST (đã xoá án tích).

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bản thân các bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, không có việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Vật chứng thu giữ của Hồ Hữu Đ:
  • - 01 gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Hồ Hữu Đ và hình dấu Công an xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký giám định viên ghi tên Đại uý Nguyễn Thanh Đ1, chữ ký ghi tên Nguyễn Minh Q1, Cán bộ Đội CSĐTTP về KT&MT Công an huyện C, bên trong có 04 (bốn) gói nylon bên ngoài quấn băng keo đen bên trong chứa tinh thể không màu đều là ma túy ở thể rắn, qua giám định có tổng khối lượng là 0,4278 gam, loại Methamphetamine, sau khi phục vụ giám định còn lại tổng khối lượng là 0,3891gam là vật cấm lưu hành xét tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) bình nhựa tự chế, nắp màu đỏ trên nắp có khoét 02 lỗ gắn 01 ống thủy tinh (nỏ) và 01 (một) ống nhựa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas đã qua sử dụng là vật không có giá trị xét tịch thu, tiêu huỷ.
  • + Vật chứng thu giữ của Dương Văn N và Huỳnh Thị T1:
  • - 40 (bốn mươi) gói nylon bên trong không chứa gì; 01 (một) cuộn băng keo màu đen, đã qua sử dụng; 02 (hai) cái kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 03 (ba) cái quẹt gas, đã qua sử dụng; 01 (một) bút lông màu xanh, đã qua sử dụng là vật không có giá trị xét tịch thu, tiêu huỷ.
  • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel, màu đỏ- đen, đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội xét tịch thu ngân sách nhà nước.
  • - Tiền Việt Nam: 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng), trong đó tiền bán ma túy cho Hồ Hữu Đ ngày 31/10/2023 là 500.000 đồng và tiền N tự nguyện giao nộp một phần tiền bán ma túy trước đó là 1.200.000 đồng là tiền thực hiện hành vi phạm tội mà có xét tịch thu ngân sách nhà nước
  • Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng và trong tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ theo Quyết định chuyển vật chứng số 11 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ.
  • - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ - đen, biển số 59Z2 - 231.87, đã qua sử dụng do ông Hồ Khắc M, sinh năm: 1968, hộ khẩu thường trú: ấp B, xã B, huyện C là cha ruột của Hồ Hữu Đ đứng tên chủ sở hữu, việc Đ sử dụng xe máy trên đi mua ma túy thì ông M không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho ông Hồ Khắc M là đúng quy định pháp luật.
  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, bị nứt màn hình, nhãn hiệu ViVo, màu trắng, đã qua sử dụng, thu giữ của Hồ Hữu Đ không liên quan đến hành vi pham tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho Hồ Hữu Đ là đúng quy định pháp luật.
  • - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Viettel, màu xanh-đen, đã qua sử dụng, thu giữ của Dương Văn N không liên quan đến hành vi pham tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho Dương Văn N là đúng quy định pháp luật.
  • - Tiền Việt Nam: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), thu giữ của Dương Văn N là tiền của ông Trần Văn X, sinh năm: 1961, hộ khẩu thường trú: 313 ấp B, xã B, huyện C, do ông X đã thuê N chở và thu giùm tiền bán thịt heo trong ngày 31/10/2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho ông Trần Văn X là đúng quy định pháp luật.

[8] Về số tiền thu lợi bất chính:

Trong quá trình mua bán ma túy các bị cáo có thu lợi số tiền bất chính nhưng đã sử dụng hết trong việc chi tiêu hàng ngày nên cơ quan điều tra không xác định được cụ thể số tiền các bị cáo có được trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân các bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, không có việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử không buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền này.

[9] Đối với hành vi của Nguyễn Đình B, Hồ Thanh T2, Nguyễn Thành T3, Phạm Văn N3 mua ma túy nhằm mục đích để sử dụng trái phép. Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người số tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định pháp luật.

[10] Đối với người phụ nữ (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) đã 03 lần bán ma túy cho N và T1 bằng cách liên lạc qua số điện thoại 0907.787.xxx. Ngày 07/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C có công văn đề nghị Công ty D cung cấp thông tin về họ tên, địa chỉ số thuê bao 0907787974, nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C sẽ tiếp tục điều tra, xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo Hồ Hữu Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; Bị cáo Dương Văn N và bị cáo Huỳnh Thị T1 thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Dương Văn N 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

[2] Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Huỳnh Thị T1 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2023 đến ngày 17/4/2024.

[3] Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Hồ Hữu Đ 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

[4]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Hồ Hữu Đ và hình dấu Công an xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký giám định viên ghi tên Đại uý Nguyễn Thanh Đ1, chữ ký ghi tên Nguyễn Minh Q1, Cán bộ Đội CSĐTTP về KT&MT Công an huyện C, bên trong có 04 (bốn) gói nylon bên ngoài quấn băng keo đen bên trong chứa tinh thể không màu đều là ma túy ở thể rắn, qua giám định có tổng khối lượng là 0,4278 gam, loại Methamphetamine, sau khi phục vụ giám định còn lại tổng khối lượng là 0,3891gam; 01 (một) bình nhựa tự chế, nắp màu đỏ trên nắp có khoét 02 lỗ gắn 01 ống thủy tinh (nỏ) và 01 (một) ống nhựa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) quẹt gas đã qua sử dụng; 40 (bốn mươi) gói nylon bên trong không chứa gì; 01 (một) cuộn băng keo màu đen, đã qua sử dụng; 02 (hai) cái kéo bằng kim loại, đã qua sử dụng; 03 (ba) cái quẹt gas, đã qua sử dụng; 01 (một) bút lông màu xanh, đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel, màu đỏ- đen, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng);
  • Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng và trong tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ theo Quyết định chuyển vật chứng số 11 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ.

[5]. Về án phí: Căn cứ vào các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Hồ Hữu Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng). Bị cáo Dương Văn N và bị cáo Huỳnh Thị T1 được miễn án theo quy định.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thành DanhLê Thị Nga

Nguyễn Văn Thụ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 13/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn N và đồng bọn mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger