Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH HẢI

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-4-2024.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Huệ.
  2. Bà Đỗ Thị Thanh Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Ngọc Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 388/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05-3-2024, quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25-3-2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích T, sinh năm: 1994. (có mặt)
  • Trú tại: Số B đường T, khu phố C, phường Đ,
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm: 1994. (có mặt)
  • Trú tại: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20-12-2023, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Nguyên đơn bà Trần Thị Bích T trình bày:

Bà và ông L quen biết và tiến tới hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X ngày 13-5-2021, giấy chứng nhận kết hôn số 68. Sau khi kết hôn vợ chồng mạnh ai nấy sống, bà sống tại nhà cha mẹ bà, chồng bà sống tại nhà cha mẹ của chồng. Mâu thuẫn phát sinh từ khi mới cưới cho đến hiện nay, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, chồng bà làm ăn gây nợ nần nhưng bà không biết. Sau khi gây nợ nần chồng bà đi làm ăn ở đâu bà không biết, bà không liên lạc được với ông L.

Hiện nay vợ chồng không có liên lạc hàn gắn tình cảm, bà không còn tình cảm với ông L nữa, bà xin ly hôn.

Vợ chồng có 01 con chung tên: Nguyễn Trần Tuệ L1, sinh ngày 12-02-2022, con hiện nay đang ở với bà. Nếu ly hôn bà xin nuôi con và không yêu cầu ông L cấp dưỡng.

Hiện nay bà làm nhân viên Thế giới di động, thu nhập hàng tháng khoảng 10.000.000 đồng.

Ông L hiện nay làm gì, thu nhập bao nhiêu bà không biết.

Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thành L vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án, tại phiên tòa hôm nay ông L có mặt, ông L trình bày:

Về hôn nhân và con chung đúng như vợ ông trình bày, về mâu thuẫn gia đình thì vợ chồng ông không có mâu thuẫn gì, khi thời buổi kinh tế khó khăn và do dịch bệnh, công việc làm ăn của ông không được thuận lợi và ông có nợ nần dẫn đến vợ chồng ông có mâu thuẫn. Theo ông thì mâu thuẫn này chưa thể ly hôn, ông vẫn còn tình cảm với vợ ông. Khi Tòa án gửi giấy báo ông có biết nhưng do bận công việc nên ông chưa đến Tòa được. Nay ông không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với vợ ông.

Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Trần Tuệ L1, sinh ngày 12-02-2022, nếu ly hôn ông đồng ý giao con cho vợ ông nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng.

Tài sản chung và nợ chung ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng Bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, tại phiên tòa hôm nay bị đơn có mặt, bị đơn trình bày đã nhận được các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn, giao 01 con chung tên Nguyễn Trần Tuệ L1, sinh ngày 12-02-2022 cho bà Trần Thị Bích T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lưu k phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ kiện này là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Bích T và ông Nguyễn Thành L được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa bà T trình bày: Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ khi mới cưới, mâu thuẫn trầm trọng từ 2023, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông L làm ăn không cho bà biết và gây ra nợ nần. Vợ chồng không sống chung từ khi mới cưới, khi ông L làm ăn gây nợ nần ông L bỏ đi đâu không rõ, vợ chồng không có liên lạc với nhau, bà không còn tình cảm với ông L nữa, bà xin ly hôn.

Ông L trình bày vợ chồng không sống chung và ông có làm ăn gây nợ nần, hiện nay ông vẫn còn tình cảm và mong muốn hàn gắn.

Xét thấy, vợ chồng không sống chung với nhau đã lâu và mạnh ai người đó sống, không quan tâm chăm sóc gì đến nhau, trình bày của bà T phù hợp với biên bản xác minh ngày 05 tháng 3 năm 2024 và đơn xin xác nhận ly thân ngày 23-01-2024. Hơn nữa ông L làm ăn gây nợ nần mà bà T không biết, sau khi gây nợ nần ông Lưu k còn liên lạc với vợ con.

Như vậy, có căn cứ cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông L đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

[2.2] Về con chung: Bà T và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Trần Tuệ L1, sinh ngày 12-02-2022, bà T có nguyện vọng nuôi con chung, ông L cũng đồng ý giao con chung cho bà T nuôi dưỡng, con hiện nay đang ở với bà T và cháu L1 là con gái hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho bà Trần Thị Bích T trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo tốt nhất cho con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Trần Thị Bích T không yêu cầu ông Nguyễn Thành L cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết trong vụ án này.

[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Trần Thị Bích T.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bích T được ly hôn với ông Nguyễn Thành L.
  • - Về con chung: Bà Trần Thị Bích T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Trần Tuệ L1, sinh ngày 12-02-2022.
  • Ông Nguyễn Thành Lưu k1 phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Trần Thị Bích T không yêu cầu.
  • - Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  • - Về án phí: Bà Trần Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001694 ngày 20-12-2023. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  • - Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn, Bị đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 16-4-2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKS tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Hải;
  • - CC THADS huyện Ninh Hải;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Xuân Hải;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thiên Quan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger