Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 4 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Khắc Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Anh Thơ.

2. Bà Hoàng Thị Thúy Giang.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Anh - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 298/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 04 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

Bị đơn: Anh Trịnh Văn H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đặng Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Liên kết hôn với anh Trịnh Văn H vào ngày 18 tháng 7 năm 2007 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình, quan điểm sống không hợp, anh H ham chơi không quan tâm vợ con, ham mê bài bạc, hai bên gia đình nội ngoại hòa giải khuyên bảo nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi. Nay chị không còn tình cảm với anh H nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Chị Đặng Thị L và anh Trịnh Văn H có 01 con chung là Trịnh Thị Thùy T, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2009. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con trưởng thành, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và khoản nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai, Đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Trịnh Văn H trình bày:

Về hôn nhân: Anh Trịnh Văn H và chị Đặng Thị Liên kết hôn vào ngày 18 tháng 7 năm 2007 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không cùng chí hướng trong xây dựng kinh tế, hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái dẫn đến thường xuyên xung khắc cãi vã nhau. Vợ chồng không chung sống với nhau mấy năm nay, không quan tâm, hỏi thăm nhau, chăm sóc nhau. Nay anh không còn tình cảm với chị L nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh Trịnh Văn H và chị Đặng Thị L có 01 con chung là Trịnh Thị Thùy T, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2009, nếu ly hôn anh nhường quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho chị L đến khi con trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 10 tháng 01 năm 2024, cháu Trịnh Thị Thùy T trình bày: Nếu mẹ Đặng Thị L và bố Trịnh Văn Hải ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với mẹ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tố tụng đúng quy định; Việc điều tra thu thập chứng cứ, việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đặng Thị L và anh Trịnh Văn H được ly hôn;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, bị đơn thường trú tại xã N, huyện N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về pháp luật nội dung:

2.1. Về hôn nhân: Chị Đặng Thị L và anh Trịnh Văn H kết hôn ngày 18 tháng 7 năm 2007 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2007 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, phát sinh quyền nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, quan điểm hai người khác nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung trong xây dựng hạnh phúc gia đình, xây dựng kinh tế và nuôi dạy con cái. Vợ chồng không còn sự tin tưởng nhau trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng không chung sống với nhau mấy năm nay, không còn quan tâm, chăm sóc, hỏi thăm nhau. Nay chị L yêu cầu ly hôn, anh H cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy, hôn nhân của hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cho chị Đặng Thị L được ly hôn với anh Trịnh Văn H là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2.2. Về con chung: chị Đặng Thị L và anh Trịnh Văn H có một con chung là Trịnh Thị Thùy T, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2009. Ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi con chung, anh H cũng đồng ý nhường cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; ý kiến của cháu T là được ở với mẹ. Xét thấy: Nguyện vọng của chị L là hoàn toàn chính đáng, chị liên có đủ điều kiện để nuôi cháu T, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho việc phát triển của cháu T nên cần giao cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình.

Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị L không yêu cầu nên không xem xét. Trường hợp, chị L có yêu cầu cấp dưỡng có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có căn cứ anh Trịnh Văn H có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Đặng Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị L và anh Trịnh Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.4. Về án phí: Chị Đặng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

[3] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị L.

  1. Về hôn nhân: Chị Đặng Thị L được ly hôn với Anh Trịnh Văn H.
  2. Về con chung: Giao con chung Trịnh Thị Thùy T, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2009 cho chị Đặng Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Trịnh Văn H do chị L không yêu cầu.

Anh Trịnh Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, chị Đặng Thị L có quyền làm đơn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, khi có căn cứ anh Trịnh Văn H có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Đặng Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.

Trường hợp có đơn yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi người trực tiếp nuôi con Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án khác.

  1. Về tài sản chung và các khoản nợ: Không xem xét.
  2. Về án phí: Chị Đặng Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001555 ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Chị Đặng Thị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOA

Lê Anh Thơ

Hoàng Thị Thúy Giang

Cao Khắc Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 13/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Liên - Hải
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger