TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2024/HS-ST Ngày 15-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Minh Châu;
2. Ông Lê Thành Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Q, sinh ngày 25/10/1992 tại Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm W, phường E, thành phố R, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn T, sinh năm 1971 và bà Trương U, sinh năm 1972; gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Chưa có; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Nguyễn A, sinh ngày 24/02/1991 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp S, xã D, thành phố R, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn G, sinh ngày 01/01/1987 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn H, sinh năm 1956 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Khóm 1, phường K, thành phố R, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp Thị, xã Z, huyện R, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng: Anh Lê V, sinh ngày 24/4/1998 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Khóm 1, phường An Bình B, thành phố R, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ, ngày 28/12/2023, Nguyễn Q mượn xe đạp của anh Nguyễn G, ngụ khóm 1, phường K, thành phố R, điều khiển mang theo kìm cộng lực và 01 đèn pin mục đích đi tìm tài sản để lấy trộm. Đến khoảng 02 giờ 15 phút ngày 29/12/2023, khi đến khóm 1, phường An Bình B, thành phố R phát hiện xe gắn máy biển số 66PA-108.75 của anh Nguyễn A đang để cặp bờ kênh R - Vĩnh Hưng, xe được khóa bằng loại khóa dây cáp. Q quan sát không có người trông coi nên đã dùng kiềm cộng lực cắt đứt khóa, điều khiển xe chạy về nhà, trên đường thì bị Công an phường An Bình B, thành phố R tuần tra kiểm soát phát hiện và mời Nguyễn Q về Cơ quan Công an làm việc và Q đã khai nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) xe gắn máy, biển số 66PA-108.75, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) xe đạp, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) kiềm cộng lực, có cán màu xanh đen, chiều dài 35cm, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn pin, vỏ bằng nhựa, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) khóa dây cáp, màu trắng, có vỏ bọc nhựa đã bị cắt đứt, chiều dài 77cm, đã qua sử dụng.
- Tại biên bản kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐG, ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự hành phố R. Kết luận: “Giá trị 01 (một) xe gắn máy, biển số 66PA-108.75, màu đỏ, đã qua sử dụng là 5.500.000 đồng; Giá trị 01 (một) khóa dây cáp, màu trắng, có vỏ bọc nhựa đã bị cắt đứt, chiều dài 77cm, đã qua sử dụng là 27.000 đồng”.
Vật chứng thu giữ, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bị hại Nguyễn A 01 (một) xe gắn máy, biển số 66PA-108.75, màu đỏ, đã qua sử dụng; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn G 01 (một) xe đạp, màu trắng, đã qua sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn G không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự đối với bị cáo Nguyễn Q.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Q đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện.
Tại bản cáo trạng số: 15/CT-VKSTPHN, ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Q đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Q về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Q mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại Nguyễn A 01 (một) xe gắn máy, biển số 66PA-108.75, màu đỏ, đã qua sử dụng; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn G 01 (một) xe đạp, màu trắng, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn G không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự đối với bị cáo Nguyễn Q nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vì muốn nhanh có tiền mua ma tuý sử dụng để thoả mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Cụ thể là: Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 29/12/2023, tại khóm 1, phường An Bình B, thành phố R, Nguyễn Q đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm xe gắn máy biển số 66PA-108.75 của anh Nguyễn A đang để cặp bờ kênh R - Vĩnh Hưng, trên đường đem xe về nhà thì bị Công an phường An Bình B, thành phố R tuần tra kiểm soát phát hiện và mời Nguyễn Q về Cơ quan Công an làm việc thì Q đã khai nhận hoàn toàn hành vi trộm cắp tài sản đã thực hiện.
Căn cứ Biên bản kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐG, ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự hành phố R. Kết luận: Giá trị 01 (một) xe gắn máy, biển số 66PA-108.75, màu đỏ, đã qua sử dụng mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại Nguyễn A là 5.500.000 đồng.
Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo; lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Q đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố R nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiển án. Đáng ra, với tuổi đời còn trẻ. Bị cáo phải ra sức lao động để tìm cho mình một việc làm hợp pháp để có thu nhập chính đáng từ công sức lao động của mình, nhưng bị cáo không làm được điều đó mà ngược lại do không chí thú làm ăn nhưng lại muốn nhanh có tiền để thoả mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
[6] Đối với việc Nguyễn Q điều khiển xe đạp đến phường An Bình B, thành phố R thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Qua điều tra, xe đạp này Q mượn của anh Nguyễn G. Anh Hờn không biết Q mượn xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do đó không có căn cứ xem xét xử lý anh Hờn với vai trò đồng phạm về tội “Trộm cắp tài sản” nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[7] Đối với việc Nguyễn Q khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã làm hư hỏng khóa dây cáp của anh Nguyễn A. Qua định giá tài sản là 27.000 đồng, với giá trị này không có đủ căn cứ xem xét xử lý Q về hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”, do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[8] Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại Nguyễn A 01 (một) xe gắn máy, biển số 66PA-108.75, màu đỏ, đã qua sử dụng; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn G 01 (một) xe đạp, màu trắng, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với 01 (một) kiềm cộng lực, có cán màu xanh đen, chiều dài 35cm và 01 (một) đèn pin, vỏ bằng nhựa, màu xanh, tất cả đều đã qua sử dụng. Đây là công cụ, đồ vật bị cáo Nguyễn Q sử dụng vào việc phạm tội, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy và nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp pháp luật.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn G đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự đối với bị cáo Nguyễn Q nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Q 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đèn pin, vỏ bằng nhựa, màu xanh, đã qua sử dụng.
- Tịch nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) kiềm cộng lực, có cán màu xanh đen, chiều dài 35cm; 01 (một) khóa dây cáp, màu trắng, có vỏ bọc nhựa đã bị cắt đứt, chiều dài 77cm đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án Dân sự thành phố R đang quản lý theo Biên bản giao nhật vật chứng ngày 10/4/2024).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Q phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/5/2024). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |
Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 13/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
